PHÁP ĐÁNH THÀNH GIA ĐỊNH VÀ HOÀ ƯỚC NHÂM TUẤT NĂM 1862


Năm 1857, Hoàng đế Pháp Napoléon III đã thành lập Ủy hội Nghiên cứu Nam Kỳ (Commission de la Cochinchine) gồm nhiều nhân vật thông thạo vùng Viễn Đông. Ủy hội này bày tỏ ý kiến nước Pháp phải chiếm cứ ba thương cảng Gia Định, Đà Nẵng, Hà Nội để có lợi cho Pháp trên cả 3 phương diện tinh thần, chính trị và thương mại. Napoléon III đã tán thành ý kiến của Ủy hội. Đầu năm 1858, Đô đốc Charles Rigault de Genouilly tiến quân để đánh chiếm Đà Nẵng để buộc triều Nguyễn phải chấp nhận cho các nhà truyền đạo Pháp độc quyền giảng đạo tại Đại Nam. Người Pháp tin là mục tiêu sẽ đạt được khi Đà Nẵng thất thủ, sau đó thì tùy vị Đô đốc toàn quyền quyết định các quan hệ với nhà Nguyễn. Chính sách của Pháp lúc này chỉ dừng lại ở việc chiếm 1 căn cứ dành cho việc thương lượng.

Từ chiều ngày 31/8/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã kéo tới dàn trận tại cửa biển Đà Nẵng (Quảng Nam). Kế hoạch của Pháp là đánh nhanh thắng nhanh làm căn cứ bàn đạp, từ đó đánh vào nội địa, tiêu diệt sinh lực của triều đình Huế tại đây, rồi vượt đèo Hải Vân đánh thọc sâu lên Huế bóp hết sức kháng chiến của phong kiến Triều Nguyễn tại chỗ và buộc họ phải đầu hàng. Sáng ngày 1/9/1858, Pháp cho người đưa tối hậu thư buộc trấn thủ Trần Hoàng phải trả lời ngay trong vòng hai giờ. Không đợi hết hạn, chúng đã ra lệnh cho tàu chiến bắn đại bác lên các đồn Điện Hải, An Hải của triều đình trong suốt ngày hôm đó. Tiếp sau, chúng cho quân đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà.

Được tin mất bán đảo Sơn Trà, triều đình Huế vội phái nhiều quân tướng tới tăng cường thực lực phòng thủ. Nguyễn Tri Phương được cử làm tổng chỉ huy mặt trận Quảng Nam để lo việc chống giặc. Nhưng ông không chủ động tấn công tiêu diệt địch, mà chỉ huy động quân dân đắp luỹ chạy dài từ bờ biển vào phía trong để bao vây địch ngoài mé biển, chặn không cho chúng đi sâu vào nội địa. Còn đối với nhân dân trong vùng thì ông ra lệnh thực hiện vườn không nhà trống tản cư vào bên trong để khỏi bị giặc bắt đi lính, nộp lương thực hay cung cấp tin tức. Chiến thuật này không phải không có hiệu quả, mấy lần liên quân Pháp - Tây Ban Nha tìm cách đánh sâu vào đều bị quân triều đình đánh bật lại, kết quả là sau 5 tháng chiến tranh, quân đội Pháp hầu như dậm chân tại chỗ. Trong lúc đó khó khăn của Pháp ngày càng một tăng thêm: do không hợp khí hậu nên binh lính pháp bị ốm đau và chết khá nhiều, trong khi thuốc men lại thiếu, tiếp tế thực phẩm cho quân lính rất khó khăn. Dù cho các giáo sĩ khẳng định là người Pháp sẽ được giáo dân nổi dậy ủng hộ nhưng trên thực tế họ chỉ nhận được sự lạnh lùng. Đô đốc Rigault de Genouilly thấy triều đình không muốn thương nghị mà lại chuẩn bị kháng cự, quân Pháp lại nhiễm dịch tả cũng như sốt rét rất nhiều nên ông quyết định gởi báo cáo về Paris và thay đổi mục tiêu xuống phía Nam.

Tiến lui đều khó, cuối cùng tướng Genouilly quyết định chỉ để lại Đà Nẵng một lực lượng quân sự nhỏ để cầm chân quân đội triều đình, còn lại thì kéo vào đánh chiếm thành Gia Định (tháng 2 - 1859).

Pháp đánh thành Gia Định
Ngày 9/2/1859, hạm đội Pháp đã tập trung đầy đủ ở Vũng Tàu. Sáng hôm sau 10/2/1859, chúng bắt đầu công phá các pháo đài Phúc Thắng, Lương Biện, Phước Mĩ, Danh Nghĩa thuộc các tỉnh Biên Hoà, Gia Định có nhiệm vụ bảo vệ đường thuỷ vào Gia Định. Sau đó, tàu chiến giặc ngược sông Cần Giờ, vừa tiến vừa bắn phá dọc các đồn hai bên bờ. Tàu Pháp tiến rất chậm, từ cửa Cần Giờ vào đến thành Gia Định (tức Sài Gòn) phải mất 6 ngày, vì vấp phải sức chống cự khá quyết liệt của quan quân triều đình đóng tại các đồn trên bờ và nhiều đập cản giữa lòng sông. Sáng ngày 16, địch đổ bộ chiếm được hai pháo đài bảo vệ trực tiếp thành Gia Định và cho tàu ngược sông Bến Nghé vào đậu sát ngay trước mặt thành. Sáng ngày 17, tàu chiến địch tập trung hoả lực bắn vào thành, đến trưa thì cho quân đổ bộ đành thành. Trước sức tấn công mạnh mẽ của địch, trấn thủ Gia Định là Vũ Duy Ninh ra lệnh rút quân, bỏ lại trong thành nhiều súng các loại và lương thực. Quân Pháp chiếm được thành Gia Định, ngày 8/3/1859 quân Pháp quyết định phá thành, rồi rút quân xuống đóng dưới tàu đậu giữa sông để tránh bị tập kích.

Năm 1860, chiến tranh nha phiến lần thứ hai bùng nổ khiến chính phủ Anh và Pháp phải quyết định phân bố lực lượng để viễn chinh sang Trung Hoa, kể cả nhóm quân Pháp tại Nam Kỳ, chỉ còn 1 số rất ít quân Pháp và Tây Ban Nha ở lại chống cự các cuộc tấn công của Nguyễn Tri Phương. Chính phủ Pháp khi đó muốn rút quân khỏi Nam Kỳ nhưng Đô đốc Rigault de Genouilly để quyền chỉ huy lại cho tướng François Page và trở về Paris, cố gắng biện hộ cho sự chiếm đóng tại Gia Định. Bộ trưởng Hải quân Pháp là Chasseloup-Laubat cũng tán thành ý kiến của Rigault de Genouilly. Do đó mà sau khi Hòa ước Bắc Kinh với nhà Thanh được ký, đô đốc Léonard Charner (mới thay François Page) đem 1 hạm đội gồm 70 chiến hạm và 3.500 người tới Nam Kỳ.

Sau khi đã liên minh cùng với các nước tư bản Âu - Mĩ dùng vũ lực buộc phong kiến Trung Quốc phải kí kết điều ước Bắc Kinh (25 - 10 - 1860), mở thêm nhiều cửa bể, dành thêm nhiều thị trường cho thế lực tư bản nước ngoài trực tiếp xâm nhập Trung Quốc, tư bản Pháp đem toàn bộ hải quân ở Viễn Đông về Gia Định để xúc tiến việc xâm chiếm Nam Kì, để từ đó thôn tính Miên, Lào, Hoa Nam (Trung Quốc).

Đạo quân xâm lược của Pháp tập trung trên sông Bến Nghé ngày 7/2/1861 đã lên tới trên 4000 người với gần 50 chiến thuyền các loại. Đô đốc Leonard Charner được Chính phủ Pháp giao cho toàn quyền tuyên chiến và kí hoà ước với Việt Nam. Lực lượng của triều đình ở Gia Định do Nguyễn Tri Phương chỉ huy hầu hết tập trung trong Đại đồn Chí Hoà, được xây dựng gấp rút để chặn đường tiến của địch.

4 giờ sáng ngày 24/2/1861, giặc Pháp bắt đầu nổ súng công kích Đại Đồn. Chúng tiến rất chậm, phần vì hoả lực khá mạnh của quan quân triều đình từ trong thành bắn ra, phần vì vấp phải hệ thống hào luỹ bảo vệ mặt ngoài thành. Cuộc chiến đấu diễn ra khá ác liệt suốt trong hai ngày liền. Cuối cùng, Nguyễn Tri Phương ra lệnh bỏ thành chạy về đồn Thuận Kiều ở sau lưng Đại Đồn để cố thủ. Nhưng ngày 28, địch tấn công chiếm luôn đồn Thuận Kiều, quan quân triều đình phải lui về Biên Hoà. Sau đó, giặc Pháp thừa thắng mở rộng phạm vi chiếm đóng, lần lượt đánh chiếm Định Tường (12/4/1861), Biên Hoà (16/12/1861), Vĩnh Long (23/3/1862).

Tháng 2 năm 1861, quân Pháp chiếm Đại đồn Chí Hòa, tiếp đó, Mỹ Tho cũng thất thủ vào tháng 4. Trong suốt năm 1861, Đô đốc Charner tiếp tục mở rộng việc chiếm đóng quanh Gia Định và Mỹ Tho cũng như bắt đầu xây dựng bộ máy hành chính để quản lý khu vực chiếm đóng.

Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862
Khi Đại đồn thất thủ, triều đình lập tức cho ông Nguyễn Bá Nghi làm Khâm sai Đại thần thay Nguyễn Tri Phương. Bá Nghi thấy thế không chống đỡ nổi với quân Pháp nên gởi tấu về xin giảng hòa. Trong lúc này, Thiếu tướng Louis-Adolphe Bonard thay thế Charner vẫn tiếp tục cho quân Pháp chiếm thêm Biên Hòa và Bà Rịa tháng 12 năm 1861, Vĩnh Long tháng 3 năm 1862. Triều đình phải cử Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp tới giảng hòa và miễn cưỡng chịu ký hiệp ước nhường 3 tỉnh miền Đông với đảo Côn Lôn cho quân Pháp và phải bồi thường chiến phí 4.000.000 đồng bạc trong 10 năm cùng việc mở cửa thông thương ở Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên.

Theo sử liệu thì nguyên nhân triều đình Tự Đức phải ký kết hiệp ước là vì lúc đó ở Bắc Kỳ có các cuộc nổi dậy đang đánh phá dữ dội (đáng kể nhất là của: Tạ Văn Phụng và Cai Tổng Vàng, Nông Hùng Thạc)...mà trong Nam Kỳ thì thực dân Pháp đã đánh chiếm được bốn tỉnh là: Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và Vĩnh Long.  Sau khi so sánh hai mối nguy, triều đình Tự Đức bèn sai Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Sài Gòn giảng hòa với thực dân, để có thể đưa đại quân ra tiêu diệt các cuộc nổi dậy ở đất Bắc đang uy hiếp ngai vàng của dòng họ Nguyễn.

Giữa lúc quân Pháp không ngờ nhất, thì thiếu tá Simon đang công tác ở ngoài khơi Trung Kỳ trở về Sài Gòn báo tin là vua Tự Đức vừa đề nghị mở cuộc giảng hòa. Tháng 4 năm Nhâm Tuất, đô đốc Bonard liền phái Simon mang chiến hạm Forbin có bố trí đại bác, ba chiếc thuyền gỗ cùng 200 lính đến cửa Thuận An (Huế), để đưa ra ba yêu sách là: Gửi sứ thần có thẩm quyền quyết định vào Gia Định, bồi thường chiến phí và phải nạp trước 100.000 Franc để đảm bảo thiện chí cầu hòa.

Theo G. Taboulet thì tàu Forbin đưa sứ bộ rời Huế vào ngày 28 tháng 5 năm 1862, đến Sài Gòn vào ngày 3 tháng 6 năm 1862, qua ngày 5 tháng 6 năm 1862 (9 tháng 5 âm lịch năm Nhâm Tuất) thì hai bên ký bản hòa ước trên tàu chiến Duperré của Pháp đậu ở bến Sài Gòn.

Ký hòa ước xong, triều đình phái Phan Thanh Giản làm tổng đốc Vĩnh Long, Lâm Duy Hiệp làm tuần phủ Khánh Thuận, để giao thiệp với các quan nước Pháp ở Gia Định.

Tháng 2 năm Quý Hợi (1863), thiếu tướng Bonard và đại tá Palanca ra Huế gặp vua Tự Đức để công nhận sự giảng hòa của ba nước. Xong rồi thiếu tướng Bonard về Pháp nghỉ, Chuẩn đô đốc La Grandière sang thay.

Bấy giờ nước Tây Ban Nha cũng nhường quyền lấy đất làm thuộc địa cho nước Pháp, chỉ nhận tiền binh phí và quyền được cho giáo sĩ đi giảng đạo mà thôi.

Hòa ước Nhâm Tuất là hiệp ước bất bình đẳng đầu tiên giữa Đại Nam và Đế quốc Pháp, theo đó Nhà Nguyễn phải cắt nhượng lãnh thổ 3 tỉnh Nam Kỳ gồm Biên Hòa, Gia Định, và Định Tường cho Pháp.

Hiệp ước được ký ngày 5 tháng 6 năm 1862 tại Sài Gòn giữa đại diện triều Nguyễn (thời vua Tự Đức) là chánh sứ Phan Thanh Giản và phó sứ Lâm Duy Hiệp (hay Thiếp) với đại diện của Pháp là thiếu tướng Bonard và đại diện của Tây Ban Nha là đại tá Don Carlos.

Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) gồm 12 điều, hai nội dung quan trọng và nặng nề nhất là triều đình Huế phải nhượng cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam kỳ và Côn Đảo với tất cả chủ quyền (điều 3), và bồi thường chiến phí với số tiền lên đến 4 triệu franc Pháp (tương đương 2.880.000 lạng bạc) trong vòng 10 năm (điều 8). Đây chính là hòa ước bất bình đẳng "đầu tiên" của Việt Nam ký với Pháp, mở đầu cho "cuốn vong quốc sử Việt Nam" từ nửa đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trong lịch sử Việt Nam.



Nội dung Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862
Hòa ước Nhâm Tuất có 12 khoản, trừ các điều khoản có tính cách ngoại giao, thì 9 khoản sau đây được coi là quan trọng hơn cả:

Khoản 1: Từ nay về sau, hòa bình sẽ mãi mãi được thiết lập giữa một bên là Hoàng đế Pháp và Nữ hoàng Tây Ban Nha và một bên là Hoàng đế Đại Nam. Tình hữu nghị toàn diện và lâu bền cũng sẽ được thiết lập giữa thần dân ba nước dù họ ở bất cứ nơi đâu.

Khoản 2: Thần dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha được hành đạo Gia Tô ở nước Đại Nam, và bất luận người nước Đại Nam ai muốn theo đạo Gia Tô, đều sẽ được tự do theo, nhưng những người không muốn theo đạo Gia Tô thì không được ép họ theo.

Khoản 3: Chủ quyền trọn ba tỉnh là Biên Hòa, tỉnh Gia Định và tỉnh Định Tường, cũng như đảo Côn Lôn, do hiệp ước này, được hoàn toàn nhượng cho hoàng đế nước Pháp. Ngoài ra, các thương gia Pháp được tự do buôn bán và đi lại bằng bất cứ tàu bè nào trên sông lớn của xứ Cam Bốt và trên tất cả các chi lưu của con sông này; các tàu binh Pháp được phép đi xem xét trên con sông này hay trên các chi lưu của nó cũng được tự do như vậy.

Khoản 4: Sau khi đã nghị hòa, nếu có nước ngoài nào muốn, bằng cách gây sự hoặc bằng một hiệp ước giành lấy một phần lãnh thổ của nước Đại Nam, thì hoàng đế nước Đại Nam sẽ báo cho hoàng đế nước Pháp biết bằng một sứ thần,.. để hoàng đế nước Pháp được hoàn toàn tự do đến tiếp cứu nước Đại Nam hay không. Nhưng, nếu trong hiệp ước với nước ngoài nói trên, có vấn đề nhượng địa, thì sự nhượng địa này có thể được thừa nhận nếu có sự ưng thuận của hoàng đế nước Pháp.

Khoản 5: Người các nước Pháp và Tây Ban Nha được tự do buôn bán tại ba hải cảng là Tourane (Đà Nẵng), Ba La (Ba Lạt) và Quảng Yên. Người nước Đại Nam cũng được tự do buôn bán tại các hải cảng của nước Pháp và Tây Ban Nha như vậy, nhưng phải theo thể thức luật định...

Khoản 8: Hoàng đế nước Đại Nam sẽ phải bồi thường một số tiền là bốn triệu franc, trả trong 10 năm. Vì nước Đại Nam không có tiền franc sẽ được tính bằng 72% lạng bạc.

Khoản 9: Nếu có cướp bóc, giặc biển hoặc kẻ gây rối người nước Nam nào, phạm tội cướp bóc hoặc gây rối trên các đất thuộc Pháp, hoặc nếu có người Âu Châu phạm tội nào đó, lẩn trốn trên đất thuộc nước Nam thì ngay khi nhà nước Pháp thông tri cho nhà chức trách Đại Nam, giới chức này phải cố gắng bắt giữ thủ phạm để giao nộp cho nhà chức trách Pháp. Vấn đề cướp bóc, giặc biển hay quân phiến động nước Nam sau khi phạm tội, lẩn trốn trên đất thuộc Pháp, cũng sẽ được xử như vậy.

Khoản 10: Dân chúng ba tỉnh là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên sẽ được tự do buôn bán trong ba tỉnh thuộc Pháp miễn tuân theo luật lệ hiện hành, nhưng những đoàn tàu chở binh lính, vũ khí, đạn dược hay lương thực giữa ba tỉnh nói trên và Nam Kỳ chỉ được thực hiện bằng đường biển. Tuy nhiên, hoàng đế nước Pháp thuận cho các đoàn tàu chở các thứ trên vào Cam Bốt được có cửa khẩu là lạch Mỹ Tho (Định Tường), gọi là Cửa Tiền, song với điều kiện là các giới chức Đại Nam phải báo trước cho đại diện của hoàng đế nước Pháp, vị đại diện này sẽ trao cho họ một giấy thông hành. Nếu thể thức này không được tuân theo, và một đoàn vận tải như vậy nhập nội mà không có giấy phép thì đoàn đó và những gì hợp thành đoàn đó sẽ bị bắt giữ và các đồ vật sẽ bị phá hủy.

Khoản 11: Thành Vĩnh Long sẽ được binh lính (Pháp) canh gác cho đến khi có lệnh mới mà không ngăn cản bằng bất cứ cách nào hoạt động của các quan Đại Nam. Thành này sẽ được trao trả cho hoàng đế nước Đại Nam ngay khi Ngài đình chỉ cuộc chiến loạn do lệnh Ngài tại các tỉnh Gia Định và Định Tường, và khi những người cầm đầu cuộc phiến loạn này ra đi và xứ sở được yên tĩnh và quy phục như trong một xứ bình yên.

Nhận xét