HOÀ ƯỚC QUÝ MÙI NĂM 1883 GIỮA PHÁP VÀ NHÀ NGUYỄN


BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA PHÁP VÀ NHÀ NGUYỄN ĐẦU NĂM 1883

Sau chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai (19/5/1883), tin Rivie chết trận không làm cho thực dân Pháp chùn bước như khi Garnie chết năm 1873. Tin đó tới đúng lúc tình hình chính trị ngoại giao của Pháp đều đã được ổn định, nên càng thúc giục mạnh thêm việc xâm lược. Ngày 15/5/1883, nghĩa là 4 ngày trước trận Cầu Giấy, chính phủ Pháp đã gọi sứ thần Pháp ở Bắc Kinh về tỏ rõ thái độ cương quyết của tư bản Pháp đối với triều Thanh trong vấn đề Bắc Kì. Ngày 26/5/1883 bọn thực dân hiếu chiến chớp ngay tin trận cầu giấy thất trận lớn tiếng gọi trả thù, buộc dư luận trong và ngoài nghị viện ủng hộ cuộc viễn chinh lớn. Ngân sách chiến phí đã được toàn thể Hạ nghị viện thông qua không một phiếu phản đối. Nghị viện cũng quyết định gửi thêm quân và chiến hạm sang Việt Nam.

Thiếu tướng Buê (Bouet) mới được cử làm Tổng chỉ huy quân đội Bắc Kì tới Hà Nội vào giữa tháng 6/1883. Trong khi chờ đợi viện binh từ Pháp sang Buê vừa gấp rút lo củng cố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định thành những căn cứ quân sự vững chắc, vừa lo bắt nguỵ binh và đánh thuế để bù đắp vào những thiếu hụt lớn về quân số và tài chính. Tứ cuối tháng 7, viện binh từ Pháp bắt đầu kéo sang. Cũng vào cuố tháng 7/1883 bọn thực dân hiếu chiến họp hội nghị quân sự ở Hải Phòng quyết định đánh thẳng lên Sơn Tây là trung tâm kháng chiến ngoài bắc bấy giờ, và đánh vào Huế là nơi đầu não của triều Nguyễn. Tin vua Tự Đức chết ngày 17/7/1883 và tình hình lục đục của triều đình Huế sau khi vua Tự Đức qua đời càng khiến thực dân Pháp quyết tâm hành động.

PHÁP TẤN CÔNG LÊN SƠN TÂY VÀ ĐÁNH CHIẾM CỬA BIỂN THUẬN AN

Ngày 15/8/1883, để giành thế chủ động, Buê đem gần 2000 quân chia làm ba đạo, có nhiều đại bác và tàu chiến yểm hộ, đánh vào phòng tuyến bảo vệ con đường lên Sơn Tây của ta. Nhưng cả ba đạo quân của chúng đều bị quân ta chặn đánh kịch liệt suốt trong hai ngày 15 và 16 trên đường hành quân, buộc chúng cuối cùng phải tháo chạy về Hà Nội. Đồng thời với việc mở cuộc tấn công Sơn Tây, sáng sớm ngày 15/8/1883, Buê còn phái một cánh quân xuất phát từ Hà Nội kéo xuống đánh chiếm Hải Dương và Quảng Yên.

Trong thời gian đó, ham đội Bắc Kì có thêm nhiều tàu chiến từ Sài Gòn ra tăng viện, do Đô đốc Cuốcbê chỉ huy, đã kéo vào uy hiếp Thuận An, cổ họng của kinh thành Huế. Sáng ngày 18/8/1883, Cuốcbê đưa tối hậu thư đòi triều đình giao tất cả các pháo đài trong vòng hai giờ. Đến 4 giờ chiều hôm đó, tàu chiến Pháp bắt đầu nổ súng và công phá suốt mấy hôm liền các đồn trại quân ta trên bờ. Chiều ngày 20, quân Pháp bắt đầu đổ bộ, và đến tối hôm đó, thì chiếm toàn bộ Thuận An. Các quan trấn thủ Thuân An như Lê Sỹ, Lê Chuẩn, Lâm Hoành, Nguyễn Trung đều hi sinh trong chiến đấu.

Triều đình Huế nghe vọng tiếng đại bác trong mấy ngày liễn đã lo ngại vô cùng, trước đó vua Tự Đức đã mất vì tuổi già (17/71883), đến nay lại tiếp tin thất bịa nên càng thêm hoảng hốt, vội cử Nguyễn Văn Tường xuống Thuận An gặp Cuốcbê xin đình chiến. Cao uỷ Pháp Hácmăng (Harmand) liền đi ngay lên Huế đặt điều kiện cho điều ước mới. Triều đình cử Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng Hợp đứng ra thương thuyết, nhưng thực chất là để nhận các điều kiện do Hácmăng đưa ra.

Với bản hiệp ước mới Hiệp ước Quý Mùi 25/8/1883 phong kiến nhà Nguyễn đã đi sâu hơn một bước trên con đường đầu hàng Pháp. Về căn bản, từ nay Việt Nam đã mất quyền tự chủ trên phạm vi toàn quốc, triều đình Huế đã chính thức thừa nhận sự bảo hộ của nước Pháp, mọi công việc chính trị, kinh tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp Nắm.

NỘI DUNG CHÍNH CỦA HIỆP ƯỚC QUÝ MÙI 1883

Hiệp biện Đại học sĩ Trần Đình Túc (Chánh sứ) và Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Trọng Hợp thay mặt triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Harman (Hiệp ước Quí Mùi-1883) với nước Pháp. 

Trong Việt Nam sử lược, sử gia Trần Trọng Kim đã tóm tắt một số điểm chính sau: 
  • 1.Triều đình Huế công nhận sự bảo hộ của Pháp. Mặt ngoại giao kể cả giao thiệp với nước Tàu (Trung Quốc) cũng phải có sự ưng thuận của Pháp. 
  • 2.Nam Kỳ là xứ thuộc địa từ năm 1874 nay được mở rộng gồm cả tỉnh Bình Thuận thay vì Bình Thuận thuộc Trung Kỳ. 
  • 3.Pháp có quyền đóng quân ở Đèo Ngang và cửa Thuận An 
  • 4.Trung Kỳ, tức các tỉnh từ Khánh Hòa ra tới Đèo Ngang thuộc triều đình Huế. Cắt ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, và Hà Tĩnh gia nhập vào Bắc Kỳ. 
  • 5.Khâm sứ Pháp ở Huế có quyền ra vào tự do yết kiến vua. 
  • 6.Ở Bắc Kỳ (gồm cả 3 tỉnh Thanh- Nghệ- Tĩnh) Pháp có quyền đặt công sứ ở các tỉnh để kiểm sát quan Việt nhưng đại để việc nội trị không bị ảnh hưởng. 
Nội dung bao trùm là: Triều đình Huế thừa nhận và chấp nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp; thừa nhận và chấp nhận nền bảo hộ của Pháp ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

Nhận xét