Ngày 7/7/1954 trước khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết 13 ngày, Mĩ đã đưa Ngô Đình Diệm (người được Mĩ nuôi dưỡng từ lâu) về nước làm thủ tướng bù nhìn thay thế Bửu Lộc. Tháng 9/1954, Mĩ quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm. Tháng 11/1954, Mĩ cử tướng Colins sang làm đại sứ ở Sài Gòn. Colins đề ra kế hoạch 6 điểm để củng cố chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm độc chiếm miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Kế hoạch Colin gồm những vấn đề sau :
- Bảo trợ chính quyền Diệm. Viện trợ thẳng cho Chính phủ Sài Gòn.
- Xây dựng quân đội Nam Việt Nam gồm 15 vạn người do Mĩ trang bị, huấn luyện.
- Bầu cử quốc hội ở miền Nam, hợp pháp hoá chính quyền Sài Gòn.
- Định cư cho số người Công giáo ở miền Bắc di cư vào Nam và vạch kế hoạch cải cách điền địa.
- Thay đổi chế độ thuế khoá, dành ưu tiên cho hàng hoá Mĩ ở miền Nam.
- Đào tạo cán bộ hành chính.
Ngày 13/12/1954, Pháp buốc phải kí với Mĩ bản hiệp ước giao trách nhiệm huấn luyện, trang bị cho quân nguỵ ở miền Nam cho Mĩ.
Ngày 19/12/1954, Pháp kí hiệp định trao quyền hành chính, chính trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm.
Cũng trong thời kì này, quân Pháp rút dần khỏi Việt Nam, Lào, Campuchia. Giữa năm 1955, Chính phủ Pháp tuyên bố chấm dứt chế độ Cao uỷ ở miền Nam Việt Nam, từ bỏ trách nhiệm một bên phải thực hiện các điều khoản của Hiệp định Gionevo. Thực tế từ sau hiệp định Gionevo, ở miền Nam nước ta đã diễn ra cuộc vật lộn giành giật gay gắt giữa chũ nghĩa thực dân kiểu mới của đế quốc Mĩ với chỉ nghĩa thực dân kiểu cũ của thực dân Pháp. Để tạo dựng một bộ mặt "độc lập" giả hiệu cho Ngô Đình Diệm, ở miền Nam. Đây là cái mà Mĩ - Diệm gọi là "đả thực", "bài phong". "Đả thực" là hất cẳng Pháp, xoá bỏ bộ máy cai trị của Pháp. Đó là bước đi của Mĩ để phục vụ cho mục tiêu cơ bản là "diệt cộng", tức chống phá cách mạng miền Nam. Mĩ còn mua chuộc các thế lực phản động trong các giáo phái và các phe phái chống đối Diệm. Ngày 9/10/1954, Diệm cách chức Tổng tham mưu trưởng của Nguyễn Văn Hinh và một loạt tướng tá thân Pháp khác. Tiếp đó, Mĩ - Diệm đã dùng bạo lực để tiêu diệt các giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên.
Nắm được quân đội, công an - công cụ thống trị chủ yếu, Diệm tiến thêm một bước mới. Ngày 17/7/1955, Diệm tuyên bố từ chối hiệp thương tổng tuyển cử. Ngày 23/10/1955, Diệm tổ chức "Trưng cầu dân ý", phế truất Bảo Đại và đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống.
Để củng cố vị trí của mình ở Đông Dương, từ tháng 11/1954, Mĩ đưa Katay lên lập chính phủ ở Lào. Tháng 12/1954, dưới sự chỉ huy của Mĩ, Katay tiến công lấn chiếm hai tỉnh tập kết của quân đội Pathet Lào là Sầm Nưa và Phong xa lì. Ngày 19/1/1955, Mĩ kí hiệp ước viện trợ cho Chính phủ hoàng gia Lào. Ở Campuchia, tháng 7/1955, Mĩ đặt phái đoàn viện trợ và cố vấn quân sự (MAAG). Tháng 9/1955, Xihanuc tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội và tuyên bố rút ra khỏi liên hiệp Pháp.
Ở Việt Nam, sau khi lên nắm chính quyền, Ngô Đình Diệm đã xây dựng miền Nam thành một "Quốc gia mạnh" của "Thế giới tự do", có một "đạo quân cảnh sát" và một "đạo quân sen đầm" lớn mạnh để chống phá cách mạng, chống cộng sản. Để tạo chỗ dựa, Diệm đã cho thành lập "Đảng Cần lao nhân vị|" phong trào "cách mạng quốc gia", "thanh niên cộng hoà". "phụ nữ liên đới" từ Trung ương tới địa phương nhằm tập hợp bọn phản động trong giai cấp tư sản, địa chủ, Thiên chúa giáo và những tên có hận thù với cách mạng, làm hậu thuẫn cho chính quyền Diệm. Ngày 4/3/1956, Diệm tổ chức bầu "Quốc hội" riêng rẽ và ngày 26/10/1956 cho công bố "Hiến pháp Việt Nam cộng hoà". Đây là việc làm hoàn toàn bất hợp pháp, trái với tinh thần Hiệp định Gionevơ nhằm biến miền Nam nước ta thành một "quốc gia" riêng.
Về quân sự, cho thới tháng 6/1955, Mĩ đã xây dựng cho chính quyền Sài Gòn một đội quân dưới quyền điều khiển trực tiếp của Mĩ gồm 10 sư đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp và 54000 quân địa phương. Số cố vấn Mĩ từ 35 người (năm 1950), tăng lên 699 người (năm 1956). Các cố vấn Mĩ có mặt đến tận cấp sư đoàn. Đội quân đó được trang bị tương đối hiện đại và huấn luyện theo chương trình do cố vấn Mĩ đặt ra. Mĩ còn cho xây dựng một hệ thống sân bay, quân cảng, đường giao thông chiến lược nhằm biến miền Nam nước ta thành một căn cứ quân sự khổng lồ. Chúng hò hét "Bắc Tiến", "lấp sông Bến Hải" và chuẩn bị đánh ra miền Bắc.
Về kinh tế, chúng đưa hàng hoá ế thừa vào miền Nam, làm cho nền kinh tế dân tộc bị lũng đoạn và phụ thuộc vào Mĩ. Viện trợ Mĩ tăng vọt : từ năm 1955 - 1957, Mĩ đã viện trợ cho Diệm 1,1 tỷ đô la (trong đó gần 60% chi dùng vào mục đích quân sự). Tháng 1 - 1955, Diệm tuyên bố "Cải cách điền địa" với những luận điệu "chia ruộng đất cho dân", "hữu sản hoá vô sản", "bài phong, đả thực"... Thực chất là chúng tước lại ruộng đất mà cách mạng đã chia cho nông dân từ thời kháng chiến chống Pháp và khôi phục, củng cố lại địa chủ ở miền Nam.
Về văn hoá, chúng đưa "lối sống Mĩ" tràn vào miền Nam để đầu độc nhân dân ta, nhất là tầng lớp thanh - thiếu niên.
Với một hệ thống cố vấn chặt chẽ cắm từ Phủ Tổng thống, Bộ Tổng tham mưu, Nha cảnh sát, các Bộ của chính quyền Sài Gòn đến các đơn vị quân đội, các địa phương và dựa vào quyền lực của vũ khí, đô la viện trợ, Mĩ đã can thiệp ngày càng sâu vào miền Nam, quyết định từ đường lối, chính sách đến các công việc cụ thể của chính quyền miền Nam như chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá xã hội và ngoại giao. Miền Nam đã trở thành "thuộc địa kiểu mới" của Mĩ. Âm mưu xâm lược của Mĩ ở miền Nam là nhằm biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ để tiến công miền Bắc, làm "con đê" ngăn chặn chủ nghĩa xã hội và không cho phong trào cách mạng tràn xuống vùng Đông Nam Á.
Sau khi thiết lập được quyền kiểm soát trên toàn bộ miền Nam, từ tháng 5 - 1955 đến 5 - 1956, Mĩ - Diệm phát động "chiến dịch tố cộng" giai đoạn I, gọi là giai đoạn mở rộng diện để gây xáo trộn và phát hiện cộng sản. Diệm còn cho lập "Phủ đặc uỷ công dân vụ" và "Hội đồng chỉ đạo tố cộng" để phụ trách, theo dõi, đúc kết kinh nghiệm "tố cộng".
Tháng 2/1955, Diệm mở chiến dịch tố cộng Phan Châu Trinh, đánh phá thí điểm các tỉnh Trung Bộ, trọng điểm là Quảng Nam.
Tháng 4/1955, chúng mở chiến dịch giải phóng, đánh phá Quảng Ngãi và vùng bắc Bình Định.
Tháng 5/1955, chúng mở chiến dịch Trịnh Minh Thế, đánh phá toàn diện các tỉnh khu V.
Ở Nam Bộ, từ tháng 6 đến tháng 10/1956, chúng mở chiến dịch Thoại Ngọc Hầu đánh vào vùng Đồng Tháp Mười, Mĩ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng... Từ tháng 7 đến tháng 12/1956, chúng mở chiến dịch Trương Tấn Bửu đánh phá miền Đông Nam Bộ. Chúng đã huy động gần như toàn bộ lực lượng cảnh sát mật vụ và một phần quân đội vào các chiến dịch "tố cộng", "diệt cộng". Chúng nêu khẩu hiệu hành động "tiêu diệt cán bộ nằm vùng, tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa cộng sản", "thà giết nhầm còn hơn bỏ sót". Mĩ - Nguỵ đã cho quân đánh phá điên cuồng, giết hại những người yêu nước, những người kháng chiến cũ, những người cách mạng hoặc bị tình nghi. Chúng đã gây ra những vụ thảm sát đẩm máu như ở Chợ Được, Vĩnh Trinh, Đại Lộc tỉnh Quảng Nam. Chúng chôn sống 21 đồng bào ta ở Chợ Được, dìm chết 42 người ở đập Vĩnh Trinh. Tháng 7/1955, chúng bắn giết một lúc 92 dân thường ở Hướng Điền. Cùng thời gian trên, chúng đem quân đánh phá ác liệt huyện Đại Lộc (Quảng Nam), bắt giam tra tấn, giết chết 500 đồng bào ta.
Ở Nam Bộ, trong các chiến dịch "tố cộng" chúng đã cưỡng bức nhân dân ta họp, học tập "tố cộng" liên miên, vu khống tố cáo cộng sản, đề cao Ngô Đình Diệm. Thủ đoạn của chúng là vừa mua chuộc, lừa mị vừa đàn áp trắng trợn. Cách mạng bị tổn thất rất nặng nề. Chỉ trong 4 năm (từ 1955 - 1958), 9/10 cán bộ đảng viên ở mièn Nam đã bị tổn thất. Riêng Nam Bộ, chỉ còn khoảng 40% tỉnh uỷ viên, 60% huyện uỷ viên, 70 % chi uỷ viên bị địch bắt giết hại, 12 huyện không còn cơ sở Đảng. Ở Quảng Trị, chỉ còn 176/8400 đảng viên trước đó. Bằng những thủ đoạn vô cùng dã man tàn bạo đó, Mĩ hi vọng có thể khuất phục nhân dân miền Nam, từ đó tiến lên xâm lược toàn bộ nước ta. Nhưng chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mĩ xâm lược miền Nam không phải thuận lợi như nhiều nơi khác trên thế giới. Nhân dân miền Nam, với tinh thần yêu nước đấu tranh rất anh dũng, đã cùng với dân tộc vùng dậy đánh đuổi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp, làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và 9 năm kháng chiến chống Pháp thắng lợi, đã từng được hưởng quyền tự do dân chủ do chế độ mới đem lại và họ thực sự là những người chiến thắng. Một dân tộc như vậy tất nhiên sẽ không bao giờ chịu làm nô lệ cho chũ nghĩa thực dân một lần nữa.
Sau hiệp định Gionevơ, lực lượng quân đội, cán bộ đảng viên của ta phải tập kết ra miền Bắc, vì thế so sánh lực lượng cách mạng và phản cách mạng ở miền Nam bất lợi cho ta. Báo cáo tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (7/1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ : "Tranh lấy hoà bình không phải là việc dễ, nó là cuộc đấu tranh trường kì, gian khổ, phức tạp". Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 6 nhận định : "Ngày nay, do tình hình mới, ta tay đổi phương châm, chính sách và sách lược đấu tranh cốt để thực hiện một cách thuận lợi mục đích trước mắt. Đây là một sự thay đổi quan trọng về phương châm và sách lược cách mạng, nhưng còn mục đích của cách mạng vẫn là một". Ngày 5/9/1954, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp để cụ thể hoá và bổ sung thêm tinh thần Hội nghị Trung ương lần thứ 6 nói trên. Hội nghị chỉ rõ : cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam phải từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị. Nhiệm vụ của đảng bộ miền Nam là lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện đình chiến, củng cố hoà bình, đòi các quyền tự do dân chủ (tự do ngôn luận, hội họp, đi lại, từ chức), cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất, tranh thủ độc lập, chống khủng bố, bảo vệ những thành quả mà quần chúng đã giành được trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Để lại những đảng viên chưa lộ mặt và những cán bộ có thể giữ bí mật được, làm cho tổ chức hoạt động gọn, nhẹ, bí mật, lực lượng của ta ở miền Nam đã nhanh chóng rút lui vào hoạt động bí mật. Riêng Nam Bộ đã có 6 vạn Đảng viên rút vào bí mật, hơn 1 vạn súng và nhiều đạn dược được chôn cất. Tại liên khu V, 2,5 vạn đảng viên được lệnh rút vào bí mật, các tổ chức Đảng được sắp xếp gọc nhẹ cho phù hợp với tình hình mới. Tại Trị Thiên - Huế, ta cũng cho cất giấu một số lớn vũ khí và bố trí nhiều cán bộ quân sự ở lại địa phương. Đến năm 1955, về cơ bản, bộ máy chỉ đạo của Đảng từ xứ uỷ, tỉnh uỷ đến huyện uỷ đã được xắp xếp xong và chuyển hướng hoạt động bí mật. Những cán bộ bị lộ thì được điều sang các địa phương khác hoặc tạm ngừng hoạt động để che giấu lực lượng. Việc vận động nguỵ quân, nguỵ quyền và đưa người của ta vào hoạt động trong các tổ chức của địch được chú ý. Các tổ chức quần chúng công khai đã hình thành ở cả nông thôn và thành thị, cán bộ đảng viên đã có mặt ở hầu khắp các thôn, xã, huyện trên toàn miền Nam làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh. Trong những tháng 8 và 9 năm 1954, ta đã tổ chức vận động cho hàng triệu quần chúng mít tinh, hội thảo chào mừng hoà bình, đòi địch không được trả thù những người kháng chiến. Ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng... hàng vạn người lao động, trí thức, học sinh, sinh viên đã tập hợp trên các đường phố lớn, hoan nghênh hiệp nghị Gionevo, chào đón hoà bình. Tết Trung thu năm 1954, hơn 1 vạn nông dân thuộc 6 xã của huyện Mỏ Cày (Bến Tre) đã biểu tình chống chính quyền Diệm khủng bố những người kháng chiến cũ. Lính Diệm đã bắn chết và làm bị thương nhiều người. Không khí căm thù sôi sục lan rộng khắp các tỉnh Bến Tre và toàn Nam Bộ. Hàng chục vạn quần chúng thuộc các tỉnh Sa Đéc, Gò Công, Rạch Giá, Cà Mau, Bạc Liêu đã xuống đường lấy chữ khí phản đối Mĩ - Diệm, đòi hiệp thương tổng tuyển cử.
Phong trào đấu tranh chính trị cũng bắt đầu lan rộng khắp các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, KHánh Hoà, Phan Rang, Phan Thiết. Tiêu biểu nhất cho phong trào đấu tranh chính trị lúc này là Phong trào hoà bình Sài Gòn - Chợ Lớn (8/1954), thu hút nhiều nhân sĩ trí thức tôn giáo tiêu biểu và đông đảo quần chúng đô thị tham gia. Phong trào đã nhanh chóng lan rộng ra khắp các thành phố, thị xã trên toàn miền Nam. Nhiều người tham gia phong trào này bị địch bắt, tra tấn dã man. Sau khi phong trào Hoà Bình Sài Gòn - Chợ Lớn bị dập tắt, tháng 2 / 1955 lại dấy lên phong trào đòi lập lại quan hệ bình thường Nam - Bắc. Hai phong trào trên nói lên nguyện vọng tha thiết của nhân dân miền Nam là hoà bình, thống nhất nước nhà và giáng một đòn nặng vào âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta của Mĩ - Diệm. Đồng thời với hai phong trào trên là phong trào đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống, như Phong trào cứu đói ở Thừa Thiên, Quảng Trị (1955), Phong trào cứu tế nạn nhân (!955), Phong trào chống lệnh giải toả đô thành và đòi cải thiện sinh hoạt (1955 - 1956)... Những phong trào này không chỉ có quần chúng lao động tham gia mà còn lôi cuốn được rất đông đảo các tầng lớp khác như trí thức, học sinh, sinh viên, các nhà công thương, tu hành và cả một số tư sản, địa chủ, nhân viên chính quyền, binh lính tham gia.
Song gay go quyết liệt và đẫm máu nhất là phong trào đấu tranh chống chiến dịch "tố cộng", "diệt cộng" của Mĩ - Diệm. Phong trào này diễn ra từ cuối năm 1954, khi chính quyền Diệm cho tuyên truyền và tổ chức "Tố cộng" rầm rộ. Chúng đặc biệt chú trọng khủng bố giới công nhân và nông dân. Tới tháng 11 - 1955, chúng tiến hành chiến dịch "Tố cộng" đợt 3 nhằm vào các cơ quan, b ắt công chức phải học tập, thanh toán thái độ lưng chừng, thoả hiệp. Trong các chiến dịch "tố cộng", "diệt cộng", chúng dùng thủ đoạn đánh phá tràn lan, đánh sâu vào các vùng trọng điểm, chà xát nhiều lần trên một khu vực... Các gia đình kháng chiến cũ, các gia đình có người đi tập kết là đối tượng chủ yếu của "Tố Cộng". Để hỗ trợ cho việc "Tố cộng", chúng còn tiến hành các cuộc càn quét cỡ đại đội, tiểu đoàn vào các vùng căn cứ cách mạng. Mĩ - Diệm chia từng ô làng ã, phân loại từng gia đình theo A, B, C để kìm kẹp, khống chế. Chúng cho bắt tất cả đàn ông, đàn bà từ 18 đến 54 tuổi, không phân biệt gia đình loại nào, phải vào tổ chức bảo vệ hương thôn để tuần tra, canh gác, phát hiện cộng sản.
Tháng 4 - 1957, chính quyền Ngô Đình Diệm triển khai kế hoạch lập dinh điền, đưa dân miền Bắc di cư và đồng bào ở các tỉnh đồng bằng lên vùng rứng núi, dọc biên giới từ tỉnh Kon Tum đến miền Đông Nam Bộ. Chúng dồn đồng bào vào các dân tộc miền núi vào những khu trù mật, trại dinh điền ở dọc các trục đường giao thông và căn cứ quân sự. Mục đích của chúng là nhằm đảm bảo an ninh cho các vùng chúng nghi có lực lượng cách mạng xâm nhập.
Tháng 5-1957, Ngô Đình Diệm ban hành đạo luật đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Không khí khủng bố, chết chóc bao trùm khắp nông thôn, thành thị miền Nam. Cán bộ đảng viên và quấn chúng tích cực bị địch sắn lùng ráo riết. Bọn phản động hoành hành ở khắp nơi, dồn ép quần chúng đến nghẹt thở. Nhưng dân dân miền Nam, với tinh thần yêu nước nồng nàn và ý chí tiến công địch kiên quyết, sắc bén, đã từng bước đẩy lùi và đập tan chính sách "tố cộng", "diệt cộng" của địch. Cuộc đấu tranh chống "Tố cộng" gắn liến với cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, đòi thống nhất đất nước. Ngày quốc tế lao động 1/5/1957, 20 vạn lạo động Sài Gòn - Chợ Lớn đã xuống đường đòi "tăng lương cho công nhân", "đả đảo bọn khủng bố" và "Hãy nối lại quan hệ hai miền Nam - Bắc". Tháng 5/1957, ở huyện Hương Trà (Thừa Thiên) gần 2000 người biểu tình phản đối hành động đàn áp dã man của địch. Trong hai tháng, 7 và 8 - 1957, nhân dân các huyện Mộ Đức, Đức Phổ, Bình Sơn, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) đấu tranh chống lệnh giới nghiêm và bắt học tập "tố cộng" của địch. Nhân dân các tỉnh Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên, Cần Thơ, Mĩ Tho, Long An, Bà Rịa... đấu tranh chống địch cướp đoạt ruộng đất, đuổi nhà và chống "tố cộng". Đồng bào vùng rứng rúi Tây Nguyên và các tỉnh vùng cao Liên khu V liên tục chống dồn dân vào các khu trù mật, khu dinh điền của địch.
Trước hành động khủng bố ngày càng tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm, đảng viên và quần chúng cách mạng ở nhiều địa phương phải vũ trang để chống lại kẻ thù.
Tháng 6/1956, Bộ Chính Trị đã nêu rõ : chế độ miền Nam là chế độ độc tài Phát Xít của bọn tư sản mại bản và phong kiến thân Mĩ phản động nhất. Cần phải dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định.
Tháng 8/1956, Lê Duẩn - uỷ viên Bộ Chính Trị, Bí thư xứ uỷ Nam Bộ đã viết "Đường lối cách mạng miền Nam", xác định : nhân dân miền Nam không có con đường nào khác là đứng lên làm cách mạng để cứu nước và tự cứu lấy mình.
Tháng 12/1956, xứ uỷ Nam Bộ đã quyết định phải tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng căn cứ ở rừng núi. Theo phương hướng đó, các đảng bộ đã xúc tiến xây dựng lực lượng vũ trang, tiến hành vũ trang tuyên truyền mang tính chất tự vệ. Liên tỉnh miền Trung Nam Bộ xây dựng được 3 đại đội vũ trang hoạt động ở vùng Đồng Tháp Mười. Liên tỉnh miền Tây xây dựng được 3 đại đội vũ trang. Một đại đội hoạt động ở vùng Trà Ôn, Lấp Vò (Sa Đéc). Hai đại đội hoạt động ở Phụng Hiệp, Long Mĩ, Châu Thành (Cần Thơ).
Các tỉnh Rạch Giá, Hà Tiên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiến Tường, Mĩ Tho, Long An, Gò Công, Bến Tre đều tổ chức từ 1 tiểu đội đến 1 tiểu đoàn. Đó là các tiểu đoàn Ngô Văn Sở, Đinh Tiên Hoàng, tiểu đoàn 502, 404, 512 và các đội vũ trang mang danh hiệu Hoà Hảo, Bình Xuyên. Quần chúng nhiều nơi đã tìm bới vũ khí (chôn giấu từ năm 1954), cướp súng địch, rèn lại cho phẳng đề làm mã tấu, dùng khăn rằn bí mật thủ tiêu những tên chỉ điểm, ác ôn nguy hiểm nhất. Ở những vùng căn cứ kháng chiến cũ, một số cán bộ, bộ đội cũ lánh địch truy lùng đã tự tổ chức nhau lại vừa sản xuất vừa tự vệ chống địch. Căn cứ địa được hình thành phần lớn từ các vùng căn cứ thời kháng chiến chống Pháp : Chiến khu Đ, Đồng Tháp, U Minh, phía tây các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên. Hoạt động vũ trang tự vệ đã hạn chế sự lùng sục của những tên chỉ điểm và tác động của bọn gây chiến tranh tâm lí. Bọn tề điệp ác ôn phải co lại. Quần chúng ngày càng có nhiều kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh với địch để tự bảo vệ mình. Cán bộ đảng viên trong thế đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ ít bị tổn thất và đạt hiệu quả hơn.
Mặc dầu quân số ít, trang bị thô sơ nhưng do biết dựa vào dân và các vùng căn cứ kháng chiến cũ, các đơn vị vũ trang cách mạng miền Nam tuy mới ra đời những đã có chỗ đứng chân khá vừng chắc. Hoạt động vũ trang bắt đầu rầm rộ ở một số nơi, nhất là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tiến tới tập kích tiêu diệt một số đồn bốt địch. Ngày 10-8-1957, lực lượng vũ trang của ta tập trung ở miền Đông Nam Bộ tập kích đồn Minh Thạnh, ngày 18/9/1967, quân ta tập kích địch ở Trại Be - một cơ sở khai thác gỗ của Trần Lệ Xuâ ở Hiếu Liêm (Biên Hoà), diệt nhiều tên, thu nhiều vũ khí, giải toả thế uy hiếp của địch đối với chiến khu Đ từ phía đông - bắc. Tháng 11/1957, tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng (Sóc Trăng) phục kích diệt 1 trung đội biệt kích Phước Long, đột nhập vào thị trấn ngã Năm để tuyên truyền phát động quần chúng. Tiểu đoàn Trần Hưng Đạo tiến công địch ở xã Loan Mĩ, huyện Tam Bình (Vĩnh Long), diệt 1 trung đội đi càn quét của địch, thu toàn bộ vũ khí. Bước sang năm 1958, các đơn vị vũ trang ở nhiều nơi liên tục hoạt động tiêu diệt địch. Nổi bật nhất là trận đánh của lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ tiến công vào quận lị Dầu Tiếng, cách Sài Gòn 70 km về phía bắc, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn địch, diệt 200 tên và thu 200 súng. Quân cách mạng làm chủ quận lị trong nhiều giờ, kẻ địch hoang mang bỏ chạy khỏi nhiều đồn bốt. Chiều 25/10/1958, đội biệt động Đông Nam Bộ tập kích vào trụ sở phái đoàn cố vấn Mĩ (MAAG) ở Biên Hoà, diệt nhiều tên.
Hoạt động vũ trang của quân cách mạng đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Năm 1957, có 2 triệt lượt người tham gia đấu tranh chính trị, năm 1958 tăng lên 3,7 triệu lượt người, năm 1959 có 5 triệu lượt người. Trong ngày Quốc tế lao động 1-5-1958, nửa triệu đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn đã xuống đường đòi quyền dân sinh, dân chủ, hoà bình, thống nhất đất nước.
Hoảng sợ trước phong trào đấu tranh của quần chúng, Mĩ - Diệm đã trắng trợn đàn áp thẳng tay, dùng chính sách phát xít ngăn chặn phong trào cách mạng. Ngày 1/12/1958, chúng đầu độc 6000 người yêu nước ở nhà tù Phú Lợi, giết hại gần 1000 người. Phong trào phản đối vụ đàn áp Phú Lợi đã lan ra khắp cả nước và nhiều nơi trên thế giới.
Tháng 3/1959, Ngô Đình Diệm tuyên bố đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh. Tháng 5/1959, Diệm ra luật 10-59, thiết lập 3 toà án quân sự đặc biệt, công khai chém giết đồng bào ta. Không khí đàn áp khủng bố bao trùm lên khắp miền Nam. Tình thế cách mạng miền Nam ngày càng đi đến chín muồi bởi kẻ thù không thể thống trị như cũ được nữa. Chúng đã phải dùng những hình thức dã man tàn bạo nhất để duy trì nền thống trị của mình là lê máy chém đi khắp miền Nam. Còn nhân dân cũng không thể sống như cũ được nữa, họ phải dùng những biện pháp đấu tranh quyết liệt để bảo vệ lực lượng phong trào đấu tranh quần chúng.
Cùng thời gian này, tháng 10/1958 ở Campuchia, Mĩ giúp Dáp Chuôn làm cuộc đảo chính lật đổ Chính phủ Vương quốc Campuchia, nhưng đã thất bại. Mĩ lại xúi giục Sơn Ngọc Thành chuẩn bị đảo chính. Ở Lào tháng 8/1958, Mĩ ép Thủ tướng trung lập Phu Ma từ chức, đưa Phủi Xananicon - phần tử cực hữu thân Mĩ - đứng ra lập chính phủ mới, không có Pathet Lào.

Nhận xét
Đăng nhận xét