TIỂU SỬ THƯỢNG NGHỊ SĨ MỸ JOHN MC CAIN (1936 - 2018)


John Sidney McCain III (29 tháng 8 năm 1936 – 25 tháng 8 năm 2018) là Thượng nghị sĩ thâm niên của Hoa Kỳ, người tiểu bang Arizona và là người được Đảng Cộng hòa đề cử ra tranh chức tổng thống trong kỳ bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2008. Ông là một trong hai nhân vật năng nổ (người thứ hai là John Kerry) trong việc hối thúc và vận động chính phủ Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, kẻ thù cũ của Hoa Kỳ với nhiều lý do, nhưng đặc biệt là việc ông coi Việt Nam là một đối trọng đáng giá trong khu vực để giúp Hoa Kỳ đối đầu với Trung Quốc.

Ông nội và cha của McCain đều từng là đô đốc Hải quân Hoa Kỳ. McCain cũng đã học tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ và tốt nghiệp vào năm 1958. Ông trở thành phi công hải quân lái máy bay cường kích từ hàng không mẫu hạm. Trong lúc tham chiến trong Chiến tranh Việt Nam, ông thoát chết trong gang tấc tại vụ cháy trên Hàng không mẫu hạm USS Forrestal năm 1967. Cùng năm, trong chuyến thi hành nhiệm vụ đánh bom lần thứ 23 trên bầu trời miền Bắc Việt Nam sau đó, phi cơ của ông bị bắn rơi và ông bị thương nghiêm trọng. Năm năm rưỡi ông bị bắt làm tù binh chiến tranh tại miền bắc Việt Nam, sau Hiệp định Paris 1973 ông được thả tự do.

Không lâu, sau khi McCain giải ngũ khỏi Hải quân vào năm 1981 và chuyển về Arizona, ông bắt đầu tham gia chính trị. Năm 1982 ông được bầu vào Hạ viện Hoa Kỳ, đại diện cho Khu quốc hội 1, Arizona. Sau khi phục vụ hai nhiệm kỳ tại đó, ông được bầu vào Thượng viện Hoa Kỳ đại diện cho Arizona vào năm 1986. Ông tái đắc cử Thượng nghị sĩ những năm 1992, 1998, và 2004.

Tuy gắn bó với các quan điểm bảo thủ, McCain nổi tiếng trong truyền thông với những phát biểu với tư cách "độc lập" của mình, phản đối nhiều vấn đề chủ chốt của Đảng Cộng hòa mà ông là thành viên. Thoát khỏi vụ tai tiếng Keating Five trong thập niên 1980, ông coi việc cải cách cơ chế tài trợ vận động tranh cử là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Điều đó dẫn đến việc thông qua Đạo luật McCain-Feingold năm 2002.

McCain đã từng nỗ lực để trở thành ứng cử viên của Đảng Cộng hòa trong kỳ bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2000, nhưng thua George W. Bush sau những cuộc tranh đua sát nút tại các cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên. Năm 2008, ông lần nữa chạy đua tìm sự đề cử của Đảng Cộng hòa. Ông được đề cử sau đó nhưng thất cử trước ứng viên Đảng Dân chủ là Barack Obama trong tổng tuyển cử.

Về quan điểm chính trị, McCain bị chỉ trích vì quan điểm diều hâu hiếu chiến, luôn ủng hộ việc Hoa Kỳ đem quân tấn công các nước khác. Điển hình là việc ông ủng hộ quân đội Mỹ tấn công Iraq, Libya, Afghanistan, Nam Tư khiến cả triệu người thiệt mạng. Ông cũng là người liên hệ với các tổ chức Hồi Giáo cực đoan ở Bosnia và Kosovo để khuyến khích họ chống Nam Tư, cũng như việc kêu gọi Chính phủ Mỹ ủng hộ các nhóm phiến quân chống Chính phủ Syria trong cuộc nội chiến tàn khốc ở quốc gia này.

SAU ĐÂY MỜI CÁC BẠN CÙNG TÌM HIỂU TIỂU SỬ CHI TIẾT THƯỢNG NGHỊ SĨ MỸ JOHN MC CAIN

McCain sinh ngày 29 tháng 8 năm 1936 tại Căn cứ Không quân Coco Solo trong Vùng Kênh đào Panama do Mỹ kiểm soát. Cha và ông nội của McCain đều là đô đốc của Hải quân Hoa Kỳ, và họ thực sự là cặp cha con đầu tiên cùng đạt đến cấp bậc đô đốc bốn sao. Ông nội ông, John S. "Slew" McCain, Sr. là một nhà tiên phong chiến lược hàng không mẫu hạm nắm quyền chỉ huy tất cả các lực lượng hàng không mẫu hạm tại mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ huy các lực lượng Hoa Kỳ trong các hành động hùng tráng như Trận Vịnh Leyte, và đã qua đời bốn ngày sau khi chiến tranh kết thúc. Cha của ông là một tư lệnh tàu ngầm, được tặng thưởng Huân chương sao bạc và Huân chương sao đồng. McCain là người Mỹ có nguồn gốc Ireland và Scotland.

Theo bước của cha và ông nội, McCain vào học tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ. Ông tốt nghiệp Học viện Hải quân năm 1958; McCain sau đó nhận nhiệm vụ là một thiếu úy Hải quân và trải qua hai năm rưỡi thụ huấn thành phi công Hải quân tại Căn cứ Không lực Hải quân Pensacola ở Florida và Căn cứ Không lực Hải quân Corpus Christi ở Texas, lái phi cơ A-1 Skyraiders. Ông trở nên nổi tiếng là một kẻ ăn chơi khi ông lái một chiếc xe Corvette, hò hẹn với một vũ nữ khiêu dâm tên là "Marie the Flame of Florida", và, như lời ông nói sau này, "nói chung đã phí phạm sức khỏe và tuổi thanh xuân của tôi."

Ông tốt nghiệp trường lái phi cơ năm 1960 và trở thành một phi công hải quân lái máy bay cường kích. McCain phục vụ trên các hàng không mẫu hạm USS IntrepidUSS Enterprise, trong Biển Caribbe và được triển khai đến Địa Trung Hải. Ông trực chiến trên hàng không mẫu hạm Enterprise khi nó tham dự cuộc phong tỏa Cuba trong suốt thời gian có cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962.

McCain càng ngày càng trở nên chán chường với vai trò huấn luyện viên và xin được chuyển sang chiến đấu. Tháng 12 năm 1966 McCain được chuyển nhiệm vụ sang hàng không mẫu hạm USS Forrestal, lái phi cơ A-4 Skyhawk; ông bắt đầu phục vụ trên mẫu hạm này trong những chuyến đi đến Địa Trung Hải và Đại Tây Dương. Trong thời gian này, cha của McCain được thăng cấp chuẩn đô đốc năm 1958 và phó đô đốc năm 1963; và vào tháng 5 năm 1967 cha của ông được thăng lên đô đốc bốn sao và làm tổng tư lệnh các lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tại Châu Âu, đóng tổng hành dinh tại Luân Đôn.

Vào mùa xuân năm 1967 Hàng không Mẫu Hạm USS Forrestal được triển khai tham dự Chiến dịch Rolling Thunder, đó là chiến dịch dội bom chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một phần của Chiến tranh Việt Nam. Đội phi cơ tấn công bay từ Hàng không mẫu hạm Forrestal có nhiệm vụ đánh phá các mục tiêu cơ sở hạ tầng đặc biệt và đã được chọn trước như kho vũ khí, nhà máy, và cầu; những mục tiêu này khá nguy hiểm vì các loại vũ khí phòng không được Liên Xô chế tạo và cung cấp, và được Lực lượng phòng không Quân đội Nhân dân Việt Nam dàn trận.

Lúc đeo cấp bậc thiếu tá, McCain một lần nữa gần như bị mất mạng khi làm nhiệm vụ vào ngày 29 tháng 7 năm 1967 trên hàng không mẫu hạm Forrestal, đang hoạt động trong Vịnh Bắc Bộ. Các phi cơ đang chuẩn bị mở đợt tấn công thì một hỏa tiễn Zuni từ một phi cơ F-4 Phantom bất chợt khai hỏa băng ngang qua sàn tàu. Đạn hỏa tiễn bắn trúng chiếc A-4E Skyhawk của ông khi ông chuẩn bị cất cánh. Nó làm vỡ tung bình nhiên liệu của chiếc Skyhawk, bắt lửa và làm hai trái bom khác văng ra. McCain thoát ra khỏi chiếc phi cơ của mình bằng cách leo ra khỏi phòng lái, bò lên phía trước mũi phi cơ và nhảy xuống sàn tàu đang bốc cháy. Chín mươi phút sau vụ tai nạn, một trong hai quả bom nổ phía dưới phi cơ của ông. McCain bị mảnh bom văng trúng hai chân và ngực. Trận hỏa hoạn giết chết 132 thủy thủ, làm bị thương 62 người khác, phá hủy ít nhất 20 phi cơ, và mất đến 24 giờ để dập tắt ngọn lửa. Một hai ngày sau sau vụ tại nạn đó, McCain bảo với phóng viên New York Times là R. W. Apple, Jr. ở Saigon rằng, "Thật là một điều khó nói. Nhưng giờ đây tôi đã chứng kiến được bom và Napalm đã gây thiệt hại thế nào cho những người trên tàu của chúng tôi, Tôi không chắc rằng tôi có còn muốn thả bất cứ thứ nào như thế nữa không xuống Bắc Việt."

Khi hàng không mẫu hạm Forrestal rút về để sửa chữa, McCain tình nguyện gia nhập Phi đoàn Tấn công 163 trên hàng không mẫu hạm thiếu nhân sự là USS Oriskany. Hàng không mẫu hạm này cũng từng bị tai nạn hỏa hoạn trên sàn tàu trước đây và các phi đoàn của nó cũng bị thiệt hại nặng nề trong Chiến dịch Rolling Thunder, với 1/3 phi công tử trận hoặc bị bắt trong năm 1967.  Ông gia nhập Oriskany vào tháng 9 năm 1967 cho một vòng phục vụ mà ông nghĩ là sẽ hoàn thành đầu mùa hè tới. Vào cuối tháng 10 năm 1967, McCain đã bay tổng cộng 22 phi vụ ném bom.

John McCain bị bắt vào ngày 26 tháng 10 năm 1967 và sau đó bị giam giữ. Chiếc phi cơ A-4E của ông bị một tên lửa bắn trúng trên bầu trời Hà Nội trong khi ông đang thực hiện nhiệm vụ ném bom lần thứ 23 của ông trên bầu trời miền Bắc Việt Nam. McCain bị gãy cả hai tay và một chân khi phóng ra khỏi chiếc phi cơ, và gần như bị chết đuối khi nhảy dù xuống Hồ Trúc Bạch. Một số người Việt kéo ông lên bờ. Một người nhảy xuống dúi mũi khẩu súng trường vào vai phải của ông, một người khác lục tìm thấy dao găm dọc theo hai bên đùi ông. Sau đó, McCain bị đưa đến nhà tù chính của Hà Nội là Hỏa Lò, có biệt danh là "Hanoi Hilton".

Tính chung, McCain làm tù binh tại Hà Nội trong 5 năm rưỡi. Ông được thả vào ngày 14 tháng 3 năm 1973. Các vết thương của ông vào thời chiến vẫn còn khiến cho ông vĩnh viễn không thể đưa hai tay qua khỏi đầu.

Tháng 1 năm 1993 McCain được giao nhiệm vụ là chủ tịch ban giám đốc Viện Cộng hòa Quốc tế (International Republican Institute), một tổ chức cổ vũ thăng tiến dân chủ bất vụ lợi có liên hệ không chính thức với Đảng Cộng hòa. Chức vụ này đã cho phép McCain nâng cao vị thế và chuyên môn của ông về chính sách ngoại giao.

McCain cũng mở rộng tầm tay và làm việc với các thượng nghị sĩ thuộc Đảng Dân chủ. Ông là một thành viên của Ủy ban Thượng viện đặc trách về vấn đề tù binh và mất tích giai đoạn 1991–1993. Ủy ban này được cựu chiến binh Việt Nam như ông thuộc Đảng Dân chủ là John Kerry làm chủ tịch nhằm mục đích điều tra số phận của các quân nhân Mỹ được liệt kê là mất tích trong Chiến tranh Việt Nam. Công việc của ủy ban bao gồm nhiều chuyến đi đến Việt Nam và yêu cầu Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ giải mã trên một triệu trang tài liệu có liên quan. Bản báo cáo chung cuộc của ủy ban mà McCain là người chứng thật có nói rằng, "Trong khi Ủy ban có một vài bằng chứng nói rằng có thể còn một tù binh có thể vẫn còn sống sót cho đến thời điểm hiện tại, và trong khi một số thông tin vẫn chưa được điều tra cho tới thời điểm này, không có bằng chứng thuyết phục nào chứng minh rằng còn bất cứ người Mỹ nào vẫn còn sống và làm tù binh tại Đông Nam Á." Sau nhiều năm có thái độ không ưa thích Kerry vì những hành động của ông này với nhóm Cựu tù binh chống chiến tranh, McCain đã phát triển "sự kính nể và tôn trọng vô giới hạn" đối với Kerry trong suốt những lần điều trần. Những động thái của ủy ban là nhằm cho phép sự cải thiện quan hệ giữa hai quốc gia; McCain hối thúc cho việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, một phần vì "đã đến lúc hàn gắn... đó là một cách để kết thúc chiến tranh; đến lúc nhìn về phía trước," và một phần vì ông nhận thấy điều đó đáng nên làm vì lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ, đặc biệt là sự nhìn xa thấy rộng Việt Nam như một đối trọng trong vùng đáng giá để đối đầu với Trung Quốc. Năm 1994 Thượng viện Hoa Kỳ thông qua một giải pháp do Kerry và McCain bảo trợ kêu gọi chấm dứt lệnh cấm vận kinh tế hiện hữu chống Việt Nam; giải pháp này có ý dọn đường cho việc bình thường hóa quan hệ. Trong lúc làm việc trong Ủy ban và sau đó, McCain bị một số người hoạt động về tù binh và mất tích phỉ báng như là một kẻ gian trá, phản bội, hay "Ứng viên Mãn Châu" vì họ tin rằng vẫn còn nhiều quân nhân Mỹ đang bị giam giữ tại Đông Nam Á. McCain nói rằng ông và Kerry đã yêu cầu Việt Nam cho xem đầy đủ những hồ sơ tài liệu của họ, và rằng ông đã dành hàng ngàn giờ cố tìm bằng chứng thật sự chớ không phải bằng chứng ngụy tạo về chuyện những người Mỹ còn sống sót. Năm 1995, Tổng thống Bill Clinton bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, với sự ủng hộ ra mặt của McCain và Kerry .

Nhận xét