Người giữ chức vụ Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam là chủ tịch Hồ Chí Minh, được bầu tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội Việt Nam năm 1946. Kể từ khi lập quốc cho đến nay nước Việt Nam hiện đại đã có 11 vị Chủ tịch nước. Sau đây mời các bạn cùng tìm hiểu về 11 Chủ tịch nước Việt Nam kể từ năm 1945 cho đến nay.

Sau đây mời các bạn cùng tìm hiểu về những Chủ tịch nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
1: Chủ tịch Hồ Chí Minh (Chủ tịch Nước từ 01/1946 đến 9/1969)
Chủ tịch Hồ Chí Minh (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969), tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, còn được biết với tên gọi Bác Hồ, là một nhà cách mạng và chính khách người Việt Nam. Ông là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, từng là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ 1945–1969, Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những năm 1945–1955, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam từ 1956–1960, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951 cho đến khi qua đời.
Trong quãng thời gian sinh sống và hoạt động trước khi lên nắm quyền, Hồ Chí Minh đã đi qua nhiều quốc gia và châu lục, ông được cho là đã sử dụng 50 đến 200 bí danh khác nhau. Về mặt tư tưởng chính trị, Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa Marx–Lenin. Ông là nhà lãnh đạo phong trào độc lập Việt Minh tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Ông cũng là người đã soạn thảo, đọc bản Tuyên ngôn độc lập thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và trở thành Chủ tịch nước sau cuộc tổng tuyển cử năm 1946.
2: Chủ tịch Tôn Đức Thắng (Chủ tịch Nước từ 23/9/1969 đến 1981)
Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20 tháng 8 năm 1888 - 30 tháng 3 năm 1980) là một nhà cách mạng, chính khách của Việt Nam. Ông sinh ra tại Cù lao Ông Hổ, làng Mỹ Hoà Hưng, tổng Định Thành, hạt Long Xuyên (nay thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang). Là con đầu của ông Tôn Văn Đề, và bà Nguyễn Thị Dị. Gia đình đông con, theo thông lệ miền Nam, ông còn được gọi là Hai Thắng.
Gia đình ông thuộc hạng nông dân khá giả nên từ nhỏ ông đã được học hành đàng hoàng. Năm 1906, sau khi tốt nghiệp Sơ cấp tiểu học Đông Dương tại Long Xuyên, ông rời quê lên Sài Gòn học nghề thợ máy tại Trường Cơ khí Á Châu, dân gian thường gọi là Trường Bá Nghệ. Tốt nghiệp hạng ưu, ông được nhận vào làm công nhân ở Nhà máy Ba Son của Hải quân Pháp tại Sài Gòn.
Sau khi kế nhiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông trở thành Chủ tịch nước thứ 2 và cũng là Chủ tịch nước cuối cùng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời là Chủ tịch nước đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trước đó, ông là Phó Chủ tịch nước (1960 - 1969), Quyền Chủ tịch nước (2 tháng 9 - 22 tháng 9 năm 1969), Trưởng ban Thường trực Quốc hội (1955-1960) - tương đương với Chủ tịch Quốc hội bây giờ.
3: Chủ tịch Trường Trinh (Chủ tịch Nước từ 1981 đến 1987)
Chủ tịch Trường Chinh (9 tháng 2 năm 1907 – 30 tháng 9 năm 1988), tên khai sinh là Đặng Xuân Khu, bí danh Anh Năm, là một chính khách Việt Nam. Ông sinh ra tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông nội ông là cụ Đặng Xuân Bảng, đỗ Tiến sĩ tam giáp đệ nhất danh năm 1856. Do truyền thống gia đình, được sự giáo dục của cha, từ nhỏ, Đặng Xuân Khu đã làm quen với Tứ thư, Ngũ kinh, thơ Đường và được đào tạo bài bản về văn hóa và lịch sử theo truyền thống Nho học. Khi lớn lên, ông bắt đầu tiếp xúc Tây học và theo học bậc Thành chung tại Nam Định.
Ông là Chủ tịch nước thứ hai của Việt Nam thống nhất trên danh nghĩa là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam từ năm 1981 đến năm 1987. Ngoài ra, ông cũng từng giữ các chức vụ quan trọng khác trong hệ thống chính trị của Việt Nam như: Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (lần thứ nhất: 1941 – 1956, lần thứ hai: 1986), Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1960 – 1975) và Chủ tịch Quốc hội (khóa V, VI). Trường Chinh còn được biết đến là một nhà thơ cách mạng với bút danh Sóng Hồng.
4: Chủ tịch nước Võ Chí Công (Chủ tịch Nước từ 1987 đến 1992)
Võ Chí Công (7 tháng 8 năm 1912 – 8 tháng 9 năm 2011) tên khai sinh là Võ Toàn, bí danh Năm Công, là một cựu chính khách của Việt Nam. Ông là Chủ tịch nước thứ 4 của Việt Nam (có lúc gọi là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam) từ năm 1987 đến năm 1992.
Ông sinh ra tại làng Tam Mỹ, tổng Phú Quý, phủ Tam Kỳ, nay là thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân I, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Cha ông là cụ Võ Nghiệm, một nhà nho yêu nước, về sau cũng là một đảng viên Cộng sản trong chi bộ do con trai mình làm bí thư, được nhà nước Việt Nam truy tặng là Liệt sĩ. Mẹ ông là Nguyễn Thị Thân, về sau được nhà nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Do sinh trưởng trong một gia đình nhà nho, từ nhỏ, ông được giáo dục về tinh thần dân tộc yêu nước và chịu ảnh hưởng của nhiều chí sĩ đất Quảng như Hoàng Diệu, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... và các phong trào đấu tranh chống thuế, đòi dân sinh, dân chủ của dân chúng vùng Nam Trung Kỳ.
5: Chủ tịch nước Lê Đức Anh (Chủ tịch Nước từ 1992 đến 1997)
Lê Đức Anh (1 tháng 12 năm 1920 - 22 tháng 4 năm 2019), tên khai sinh là Lê Văn Giác, bí danh là Nguyễn Phú Hòa, Sáu Nam, là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 1992–1997. Trước đó ông từng là một tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, quân hàm Đại tướng, từng là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam (1987–1991), Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (1986–1987).
Ông nội Chủ tịch Lê Đức Anh tên là Lê Thảng (6 tháng 11 năm 1861 – 11 tháng 5 năm 1939), quê quán tại Truồi, làng Bàn Môn, Lộc An, Phú Lộc,Thừa Thiên Huế. Cụ Lê Thảng là nông dân, từng tham gia Phong trào Cần Vương. Năm 1937, khi mới 17 tuổi, Chủ tịch Lê Đức Anh bắt đầu tham gia các hoạt động cách mạng chống thực dân Pháp. Tháng 5 năm 1938, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.
6: Chủ tịch Trần Đức Lương (Chủ tịch Nước từ 1997 đến 6/2006)
Trần Đức Lương (sinh ngày 5 tháng 5 năm 1937 tại xã Phổ Khánh, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) là một chính khách Việt Nam. Ông nguyên là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2006, là Ủy viên Bộ Chính trị khóa VIII, IX và Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII.
Tháng 2 năm 1955: ông Tập kết ra Bắc rồi học sơ cấp, học bổ túc trung cấp địa chất; rồi làm kĩ thuật viên, đội trưởng, đoàn phó kĩ thuật địa chất rồi đến bí thư chi đoàn, chi ủy viên rồi làm bí thư chi bộ, liên chi uỷ viên. Năm 1959, ông gia nhập đảng Lao Động Việt Nam. Tháng 9 năm 1959 đến tháng 3 năm 1964 ông là đội trưởng đội địa chất 4, đoàn địa chất 20, đồng tác giả công trình nghiên cứu lập "Bản đồ địa chất tỷ lệ 1/500.000 miền Bắc Việt Nam" (công trình hợp tác Xô-Việt trong các năm 1960-1965). Trong giai đoạn này ông là ủy viên Ban chấp hành Đoàn Thanh niên Lao động Cục Địa chất, Chi ủy viên (1963-1964). Từ tháng 9 năm 1966, ông học ở Trường Đại học Mỏ – Địa chất Hà Nội, hệ chuyên tu đến tháng 1 năm 1970, ông cũng là đảng ủy viên, bí thư đoàn trường vào năm 1969.
7: Chủ tịch Nguyễn Minh Triết (Chủ tịch Nước từ 6/2006 đến 7/2011)
Nguyễn Minh Triết (sinh ngày 8 tháng 10 năm 1942) tại Phú An, Bến Cát, Bình Dương, Việt Nam, trong một gia đình nông dân trung lưu. Năm 1957, ông lên Sài Gòn, theo học tại trường Trung học Petrus Ký, một trường trung học có tiếng thời bấy giờ.
Sau khi tốt nghiệp Tú tài năm 1960, ông theo học khoa Toán trường Đại học Khoa học Sài Gòn. Tại đây, ông bắt đầu tham gia phong trào sinh viên, học sinh Sài Gòn chống chính quyền Ngô Đình Diệm, nằm vùng ở Sài Gòn, gia nhập Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng miền Nam, một tổ chức thanh niên bí mật do Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo.
Tháng 11 năm 1963, ông thoát ly ra chiến khu, công tác ở Khu Sài Gòn - Gia Định. Sau đó ông công tác văn thư kế toán, cán bộ nghiên cứu tại Trung ương Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng (Ban thanh vận Trung ương Cục miền Nam). Ông có bí danh Trần Phong còn gọi là Sáu Phong, được cử làm Bí thư Đoàn thanh niên Cơ quan Trung ương Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng miền Nam, Thường vụ Đoàn thanh niên các cơ quan Trung ương Cục miền Nam; và đi công tác chiến trường tại tỉnh Mỹ Tho cho đến năm 1973
Trước khi trở thành Chủ tịch nước, ông là Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, một chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị tại Việt Nam. Ông là nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 2006 cho đến năm 2011.
8: Chủ tịch Trương Tấn Sang (Chủ tịch Nước từ 7/2011 đến 3/2016)
Chủ tịch Trương Tấn Sang (sinh ngày 21 tháng 1 năm 1949) tại xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Ông là Chủ tịch của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 2011 cho đến năm 2016, là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam của các khóa VIII, IX, X, XI), ông là người đầu tiên giữ chức Trưởng Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương trong suốt nhiệm kỳ Chủ tịch nước, trước đó ông là Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Ban Kinh tế Trung ương từ năm 2001 đến năm 2006, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1996 đến năm 2001 và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1991 đến năm 1996. Ông là Đại biểu Quốc hội Việt Nam từ khoá IX đến khóa XIII.
9: Chủ tịch Trần Đại Quang (Chủ tịch Nước từ 4/2016 đến 9/2018)
Chủ tịch Trần Đại Quang (12 tháng 10 năm 1956 – 21 tháng 9 năm 2018) tại thôn Lưu Quang, xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Cha ông làm nghề đơm đó bắt cá trên sông, còn mẹ ông làm nghề bán chuối. Họ có sáu người con, 4 trai tên là Vinh (thứ nhất), Quang, Sáng, Tỏ (út, sinh ngày 28 tháng 1 năm 1962), và hai con gái. Năm 1962, khi Trần Đại Quang mới vào tiểu học, em trai út Trần Quốc Tỏ mới sinh chưa được lâu thì cha mất. Do nhà quá nghèo, đông anh em, nên từ nhỏ Trần Đại Quang đã giúp mẹ làm nhiều việc nhà nông. Ông được nhận xét là học giỏi, chăm chỉ, điềm tĩnh, và trầm tính. Từ bé ông đã tầm vóc cao lớn hơn so với bạn bè cùng lứa tuổi.
Ông là Chủ tịch nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ ngày 2 tháng 4 năm 2016 cho đến ngày ông qua đời (ngày 21 tháng 9 năm 2018). Ông xuất thân Đại tướng Công an nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Công an nhiệm kỳ 2011–2016. Trong Đảng Cộng sản Việt Nam, ông từng là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, XII; Trưởng Ban Chỉ đạo cải cách Tư pháp Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương và Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nguyên từ 2011 đến 2016. Trần Đại Quang còn là Giáo sư ngành Khoa học an ninh, Tiến sĩ Luật học.
10: Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (Chủ tịch Nước từ 23/10/2018 đến 05/4/2021)
Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng (sinh ngày 14 tháng 4 năm 1944) tại thôn Lại Đà, xã Hội Phụ, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc thôn Lại Đà, xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Hà Nội) là một chính khách người Việt Nam. Ông hiện đang đảm nhiệm chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Bí thư Quân ủy Trung ương. Ngoài ra ông còn giữ một số chức vụ khác bao gồm Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương; Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XV nhiệm kì 2021 – 2026 và là một trong những Đại biểu thuộc Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội.
Vào ngày 23 tháng 10 năm 2018, sau khi được Quốc hội Việt Nam khóa XIV bầu làm Chủ tịch nước, ông đã chính thức trở thành người thứ ba trong lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam nắm giữ cả hai chức vụ đứng đầu Đảng Cộng sản và Nhà nước, sau Hồ Chí Minh và Trường Chinh.
11: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc (Chủ tịch Nước từ 4/2021 đến 01/2023)
Nguyễn Xuân Phúc (sinh ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại Quảng Nam) là một chính trị gia người Việt Nam. Ông nguyên là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII, Đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa XI, XIII, XIV, XV. Ông từng giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh Việt Nam. Ông cũng đảm nhiệm ghế Chủ tịch Hội nghị cấp cao ASEAN nhiệm kỳ 2020.[2] Nguyễn Xuân Phúc gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 12 tháng 11 năm 1983.
Ngày 18 tháng 01 năm 2023, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 3, Quốc hội đã bỏ phiếu thông qua việc miễn nhiệm chức vụ chủ tịch nước nhiệm kỳ 2021 - 2026 và cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội khóa XV đối với ông Nguyễn Xuân Phúc.[3] Trước đó, 17 tháng 1 năm 2023, Trung ương đã chấp thuận cho ông Nguyễn Xuân Phúc thôi giữ các chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng khóa 13, Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng, an ninh nhiệm kỳ 2021–2026, theo nguyện vọng cá nhân.[4] Ông là Chủ tịch nước có nhiệm kỳ ngắn nhất Việt Nam.\
12: Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng (Chủ tịch Nước từ 02/3/2023)
Võ Văn Thưởng (sinh ngày 13 tháng 12 năm 1970) là một nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản và chính trị gia người Việt Nam. Ông hiện là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh Việt Nam, Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, Trưởng Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XV thuộc đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng. Ông là chủ tịch nước trẻ nhất trong lịch sử Việt Nam khi nhậm chức ở tuổi 52.
Ông nguyên là Bí thư Trung ương Đảng, Thường trực Ban Bí thư khoá XIII, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương khóa XII; Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Ngãi; Bí thư thường trực, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; Thành ủy viên, Bí thư Quận ủy Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Bí thư Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, ông cũng là người trẻ nhất trong Bộ Chính trị.
Võ Văn Thưởng là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, học vị Thạc sĩ Triết học, cao cấp lý luận chính trị. Ông là Đại biểu Quốc hội Việt Nam các khoá XII (2007 – 2011), XIV (2016 – 2021), XV (2021 – 2026), Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2011, khóa XI, XII. Ông là chính trị gia có sự nghiệp công tác lâu dài với 20 năm trong lĩnh vực thanh niên Việt Nam.
Nhận xét
Đăng nhận xét