Tiểu sử David Ben-Gurion, người sáng lập nhà nước ISRAEL

David Ben-Gurion 16 tháng 10 năm 1886 - 1 tháng 12 năm 1973) là thủ tướng đầu tiên của Israel. Ấp ủ hoài bão về công cuộc phục quốc của người Do Thái từ đầu đời, David Ben-Gurion đã đóng vai trò then chốt trong sự thành lập nhà nước Israel. Sau khi lãnh đạo Israel dành thắng lợi trong Chiến tranh Ả Rập-Israel 1948, Ben-Gurion đã đóng góp trong việc xây dựng hiến pháp quốc gia và chứng kiến sự di dân của người Do Thái từ khắp nơi trên thế giới tới định cư tại Israel. Sau khi giã từ sự nghiệp chính trị năm 1970, ông chuyển tới sống tại Sde Boker cho tới khi qua đời. Ben-Gurion được tạp chí Time bầu chọn là một trong 100 nhân vật quan trọng nhất của thế kỷ 20.

SAU ĐÂY MỜI CÁC BẠN CÙNG TÌM HIỂU VỀ TIỂU SỬ CHI TIẾT DAVID BEN - GURION

Ben-Gurion sinh tại Vương quốc Lập hiến Ba Lan khi ấy là một phần của Đế chế Nga. Cha ônglà một luật sư và Mẹ ôngmất khi ông 11 tuổi. Ben-Gurion lớn lên và trở thành một người ủng hộ tích cực Chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Khi còn là một sinh viên tại Đại học ở Ba Lan ông gia nhập phong trào Mác xít năm 1904. Ông hai lần bị bắt giữ trong cuộc Cách mạng Nga năm 1905. Ông nhập cư vào Palestine khi đó thuộc Đế Quốc Ottoman vào năm 1906, bị sốc bởi những cuộc tàn sát người Do Thái.

Tại Palestine, ban đầu ông làm việc trong ngành nông nghiệp, đi hái cam. Năm 1909 ông tình nguyện gia nhập một lực lượng gồm những người tình nguyện giúp bảo vệ cho các cộng đồng Do Thái nông nghiệp tại những nơi hẻo lãnh. Ngày 7 tháng 11 năm 1911, Ben Gurion tới Thổ Nhĩ Kỳ phục vụ việc học luật của mình. Thành phố này, vốn có một cộng đồng Do Thái lớn, đã gây ấn tượng với Ben Gurion và ông đã gọi nó là "một thành phố Do Thái không hề có nơi khác tương tự trên thế giới." Ở đó ông cũng nhận ra rằng "người Do Thái có khả năng đảm đương mọi loại công việc," từ những doanh nhân giàu có và các giáo sư, tới các thương nhân, thợ thủ công và người bốc vác.

Năm 1912, ông tới Constantinopolis (hiện là Istanbul), khi ấy là thủ đô của Đế chế Ottoman, để học luật tại Đại học Istanbul, Ông cũng làm việc như một nhà báo. Năm 1915, Ben-Gurion bị trục xuất khỏi Palestine, khi ấy vẫn nằm dưới sự cai trị của Ottoman, vì các hoạt động chính trị của mình. 

Ông Định cư tại thành phố New York năm vào 1915, ông gặp Paula Munweis người được sinh ra tại Nga. Họ cưới năm 1917, và có ba con. Ông tham gia quân đội Anh năm 1918 trong Tiểu đoàn số 38 thuộc Quân đoàn Do Thái sau  đó. Ông cùng gia đình quay trở lại Palestine sau Thế chiến I sau khi nó bị người Anh chiếm từ Đế chế Ottoman.

Trong cuộc Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948 Ben-Gurion giám sát các chiến dịch quân sự của nhà nước non trẻ. Trong những tuần đầu tiên sau khi Israel tuyên bố độc lập, ông đã ra lệnh thay thế mọi tổ chức du kích bởi một quân đội quốc gia, Các lực lượng Phòng vệ Israel (IDF).

Với tư cách lãnh đạo Cơ quan Do Thái, Ben-Gurion trên thực tế là lãnh đạo của những người Do Thái Palestine thậm chí trước khi nhà nước được tuyên bố thành lập. Ở cương vị này, Ben-Gurion đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc Chiến tranh năm 1948 và cuộc trục xuất người Palestine sau đó.

Ngày 14 tháng 5, ngày cuối cùng của nền Uỷ trị Anh, Ben-Gurion tuyên bố nền độc lập của nhà nước Israel. Trong lễ tuyên ngôn độc lập của Israel, ông nói rằng nhà nước mới sẽ "ủng hộ sự bình đẳng hoàn toàn về xã hội và chính trị của mọi công dân của mình, không phân biệt sắc tộc, tín ngưỡng hay giới tính."

Sau khi lãnh đạo Israel trong cuộc Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948, Ben-Gurion được bầu làm Thủ tướng Israel khi đảng Mapai (Công đảng) của ông giành số ghế lớn nhất trong cuộc tổng tuyển cử quốc gia đầu tiên, được tổ chức ngày 14 tháng 2 năm 1949. Ông tiếp tục giữ chức vụ này cho tới năm 1963, ngoại trừ một giai đoạn gần hai năm từ 1954 tới 1955. Với tư cách Thủ tướng, ông giám sát việc thành lập các định chế nhà nước. Ông làm chủ tịch nhiều dự án quốc gia với mục tiêu thúc đầy đất nước và dân số phát triển nhanh chóng: Chiến dịch Thảm Thần, cuộc không vận người Do Thái từ các quốc gia Ả Rập, việc xây dựng Kênh Nước Quốc gia, các dự án phát triển địa phương và việc thành lập các thành phố và thị trấn mới. Đặc biệt ông đã kêu gọi tiến hành định cư tại các khu vực bên ngoài, đặc biệt là Negev.

Ben-Gurion có một vai trò lớn trong nhiều chiến dịch quân sự dẫn tới vụ thảm sát Qibya tháng 10 năm 1953. Sau này vào năm 1953 ông thông báo ý định rút khỏi chính phủ và được thay thế bởi Moshe Sharett, người được bầu làm Thủ tướng thứ hai của Israel vào tháng 1 năm 1954.

Ben-Gurion quay trở lại nội các năm 1955 nắm chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng và nhanh chóng được bầu lại làm Thủ tướng. Khi Ben-Gurion quay trở lại chính phủ, các lực lượng của Israel trả đũa mạnh mẽ hơn với các vụ tấn công của du kích Palestine từ Gaza—vẫn nằm dưới sự cai quản của Ai Cập. Vòng xoáy bạo lực ngày càng gia tăng khiến Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser xây dựng quân đội của riêng mình với sự giúp đỡ của Liên Xô. Israel trả đũa bằng cách tìm kiếm sự trợ giúp quân sự từ phía Pháp. Nasser phong toả việc đi lại của các con tàu Israel qua Biển Đỏ và Kênh Suez. Tháng 7 năm 1956, Mỹ và Anh rút lui sự trợ giúp tài chính của họ cho dự án Đập Cao Aswan trên sông Nile và một tuần sau Nasser ra lệnh quốc gia hoá Kênh đào Suez do Pháp và Anh quản lý.

Ben-Gurion cộng tác với người Anh và Pháp lập kế hoạch Chiến tranh Sinai năm 1956 trong đó Israel ném bom Bán đảo Sinai nhờ thế tạo cho các lực lượng Pháp và Anh một cớ để can thiệp nhằm giành lại Kênh Suez. Sự can thiệp của Hoa Kỳ và Liên hiệp quốc buộc Pháp và Anh phải lùi bước và Israel rút lui khỏi Sinai để đổi lấy những lời hứa hẹn tự do đi lại qua Biển Đỏ và Kênh Suez. Một lực lượng Liên hiệp quốc đồn trú giữa Ai Cập và Israel.

Ben-Gurion rút lui khỏi chức vụ thủ tướng vì cái mà ông miêu tả là các lý do cá nhân năm 1963, và chọn Levi Eshkol làm người kế nhiệm mình. Một năm sau một tình trạng đối đầu nảy sinh giữa hai người về vấn đề Vụ việc Lavon. Ben-Gurion rời khỏi đảng tháng 6 năm 1965 về cách Eshkol giải quyết vụ việc Lavon và thành lập một đảng mới, Rafi giành được mười ghế trong Knesset. Sau cuộc Chiến tranh Sáu Ngày, Ben-Gurion ủng hộ việc trả lại mọi vùng đất chiếm đóng ngoại trừ Jerusalem, Cao nguyên Golan và Núi Hebron. 

Năm 1968, khi Rafi sáp nhập với Mapai để hình thành nên Liên kết, Ben-Gurion từ chối hoà giải với đảng cũ của mình. Ông ủng hộ các cải cách bầu cử trong đó một hệ thống dựa trên khu vực bầu cử sẽ thay thế cái mà ông gọi là biện pháp đại diện tỷ lệ đầy phức tạp. Ông thành lập một đảng mới, Danh sách Quốc gia, giành được bốn ghế trong cuộc bầu cử năm 1969. Ben-Gurion nghỉ hoạt động chính trị năm 1970 và sống những năm cuối đời mình trong một ngôi nhà giản dị tại kibbutz.

Ben-Gurion mất ngày 1 tháng 12 năm 1973, và được chôn bên cạnh vợ ông là Paula tại một địa điểm ở Midreshet Ben-Gurion trong sa mạc Negev.

Nhận xét