HOA KỲ ĐÃ SINH RA VIỆT NAM CỘNG HOÀ NHƯ THẾ NÀO?


Việt Nam Cộng hòa là một chế độ đã từng tồn tại từ năm 1955 đến năm 1975. Trong các tài liệu quốc tế, chế độ này còn được gọi là South Vietnam để chỉ phạm vi địa lý kể từ khi Hiệp định Genève được ký kết và Việt Nam bị chia cắt thành hai vùng tập kết quân sự tạm thời. Với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa bác bỏ việc thực hiện tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam vào năm 1956 theo Hiệp định Genève với lý do họ không ký hiệp định này. Chế độ Việt Nam Cộng hòa đối chọi với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập năm 1969 do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lãnh đạo.

SAY ĐÂY MỜI CÁC BẠN CÙNG TÌM HIỂU VỀ CÁCH HOA KỲ ĐÃ SINH RA VNCH NHƯ THẾ NÀO?

Ngày 7/7/1954, trước khi hiệp định Gienevo được kí kết 13 ngày, Mĩ đã đưa Ngô Đình Diệm (người được Mĩ nuôi dưỡng từ lâu) về nước làm thủ tướng bù nhìn thay thế Bửu Lộc. Tháng 9-1954, Mĩ quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm. Tháng 11/1954, Mĩ cử tướng Côlin sang làm đại sứ ở Sài Gòn. Cô Lin đề ra kế hoạch 6 điểm để củng cố chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm độc chiếm miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Kế hoạch Côlin gồm những vấn đề sau:

- Bảo trợ chính quyền diệm. Viện trợ thẳng cho Chính phủ Sài Gòn.
- Xây dựng quân đội Nam Việt Nam gồm 15 vạn người do Mĩ trang bị, huấn luyện.
- Bầu cử quốc hội ở miền Nam, hợp pháp hoá chính quyền Sài Gòn.
- Định cư cho số người Công giáo ở miền Bắc di cư vào Nam và vạch kế hoạch cải cách điền địa.
- Thay đổi chế độ thuế khoá, dành ưu tiên cho hàng hoá Mĩ ở miền Nam.
- Đào tạo cán bộ hành chính.

Ngày 13/12/1954, Pháp buộc phải kí với Mĩ bản hiệp ước giao trách nhiệm huấn luyện, trang bị quân nguỵ ở miền Nam cho Mĩ.

Ngày 19/12/1954, Pháp kí hiệp định trao quyền hành chính, chính trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm.

Cũng trong thời kì này, quân Pháp rút dần khỏi Việt Nam, Lào, Campuchia. Giữa năm 1955, Chính phủ Pháp tuyên bố chấm dứt chế độ Cao uỷ ở miền Nam Việt Nam, từ bỏ trách nhiệm một bên phải thực hiện các điều khoản của Hiệp định Gienevơ. Thực tế từ sau hiệp định Gienevo, ở miền Nam nước ta diễn ra cuộc vật lộn giành giật gay gắt giữa chủ nghĩa thực dân kiểu mới của đế quốc Mĩ với chủ nghĩa thực dân kiểu cũ của thực dân Pháp. Để tạo dựng một bộ mặt "độc lập" giả hiệu cho Ngô Đình Diệm, trước mắt là phải loại bỏ ngay ảnh hưởng của Pháp và chính quyền Bảo Đại ở miền Nam. Đây là cái mà Mĩ - Diệm gọi là "đả thực", "bài phong". "Đả thực" là hất cẳng Pháp, xoá bỏ bộ máy cai trị của Pháp. Đó là bước đi của Mỹ để phục vụ mục tiêu cơ bản là "diệt cộng", tức chống phá cách mạng miền Nam. Mĩ còn mua chuộc các thế lực phản động trong các giáo phái và các phe phái chống đối Diệm. Ngày 9/10/1954, Diệm cách chức Tổng tham mưu trưởng của Nguyễn Văn Hinh và một loạt tướng tá thân Pháp khác. Tiếp đó, Mĩ - Diệm đã dùng bạo lực để tiêu diệt các giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên.

Nắm được quân đội, công an - công cụ thống trị chủ yếu, Diệm tiến thêm một bước mới. Ngày 17/7/1955, Diệm tuyên bố từ chối hiệp thương tổng tuyển cử. Ngày 23/10/1955, Diệm tổ chức "trưng cầu dân ý", phế truất Bảo Đại và đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống.

Ở Việt Nam, sau khi lên nắm chính quyền, Ngô Đình Diệm đã xây dựng miền Nam thành một "quốc gia mạnh" của "thế giới tự do", có một "đạo quân cảnh sát" và một "đạo quân sen đầm" lớn mạnh để chống cách mạng, chống cộng sản. Để tạo chỗ dựa, Diệm đã cho thành lập "Đảng Cần lao nhân vị" phong trào "cách mạng quốc gia", "thanh niên cộng hoà", "phụ nữ liên đới" từ Trung ương tới địa phương nhằm tập hợp bọn phản động trong giai cấp tư sản, địa chủ, Thiên chúa giáo và những tên có hận thù với cách mạng, làm hậu thuẩn cho chính quyền Diệm. Ngày 4/3/1956, Diệm tổ chức bầu "Quốc hội" riêng rẽ và ngày 26/10/1956 cho công bố "Hiến pháp Việt Nam Cộng Hoà". Đây là việc làm hoàn toàn bất hợp pháp, trái với tinh thần Hiệp định Gienevo nhằm biến miền Nam nước ta thành một "quốc gia" riêng.

Về quân sự, cho tới tháng 6/1955, Mĩ đã xây dựng cho chính quyền Sài Gòn một đội quân dưới quyền điều khiển trực tiếp của Mĩ gồm 10 sư đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp và 54000 quân địa phương. Số cố vấn Mĩ từ 35 người (năm 1950), tăng lên 699 người năm 1956. Các cố vẫn Mĩ có mặt đến tận cấp sư đoàn. Đội quân đó được trang bị tương đối hiện đại và huấn luyện theo chương trình do cố vấn Mĩ đặt ra. Mĩ còn cho xây dựng một hệ thống sân bay, quân cảng, đường giao thông chiến lược nhằm biến miền Nam nước ta thành một căn cứ quân sự khổng lồ. Chúng hò hét "Bắc tiến", "lấp sông Bến Hải" và chuẩn bị đánh ra miền Bắc.

Về kinh tế, chúng đưa hàng hoá ế thừa vào miền Nam, làm cho nền kinh tế dân tộc bị lũng đoạn và phụ thuộc vào Mĩ. Viện trợ Mĩ tăng vọt : từ năm 1955 - 1957, Mĩ đã viện trợ cho Diệm 1,1 tỉ đô la (trong đó gần 60% chi dùng vào mục đích quân sự). Tháng 1 - 1955, Diệm tuyên bố "Cải cách điền địa" với những luận điệu "chia ruộng đất cho dân", "hữu sản hoá vô sản", "bài phong, đả thực"... Thực chất là chúng tước lại ruộng đất mà cách mạng đã chia cho nông dân từ thời kháng chiến chống Pháp và khôi phục, củng cố lại giai cấp địa chủ ở miền Nam.

Về văn hoá, chúng đưa "lối sống Mĩ" tràn vào miền Nam để đầu độc nhân dân ta, nhất là tầng lớp thanh - thiếu niên.

Với một hệ thống cố vấn chặt chẽ cắm từ Phủ Tổng thống, Bộ Tổng tham mưu, Nha cảnh sát, các Bộ của chính quyền Sài Gòn đến các đơn vị quân đội, địa phương và dựa vào quyên lực vũ khí, đô la viện trợ, Mĩ đã can thiệp ngày càng sâu vào miền Nam Việt Nam, quyết định từ đường lối, chính sách đến các công việc cụ thể của chính quyền miền Nam như chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá xã hội và ngoại giao. Miền Nam đã trở thành "thuộc địa kiểu mới" của Mĩ. Âm mưu xâm lược của Mĩ ở miền Nam là nhằm biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quận sự của Mĩ để tiến công miền Bắc, làm "con đê" ngăn chặn chủ nghĩa xã hội và không cho phong trào cách mạng tràn xuống vuàng Đông Nam A.

Nhận xét