ÂM MƯU XÂM LƯỢC VIỆT NAM CỦA THỰC DÂN PHÁP


Âm mưu xâm lược của tư bản Pháp đối với Việt Nam lâu dài và liên tục, bắt nguồn từ những năm đầu thế kỉ XVII, và ngày càng được xúc tiến một cách mạnh mẽ, đặc biệt từ giữa thế kỉ XIX. Ngày 2/12/1852, Lui Bonapác dựa vào sự ủng hộ của bọn đại tư sản phản động, giáo dân, và sức mạnh của lưỡi lê để lên ngôi hoàng đế. Nền đế chế thứ hai là một hình thái chuyên chế của giai cấp tư sản Pháp, bên trong ra sức đàn áp và bóc lột nhân dân, bên ngoài ráo riết đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa. Nhưng cũng phải đợi đến tháng 9 - 1846, mâu thuẫn Anh - Pháp tạm thời hoà hoãn, liên quân hai nước cùng nhau câu kết để uy hiếp Trung Quốc, cộng thêm các báo cáo của bọn con buôn và giáo sĩ về tình hình ngày càng thêm suy đốn của triều đình Huế, Napoleong III mới dám ra mặt hành động.

Ngày 16/9/1856, tàu chiến CATINA đến Đà Nẵng, có phái viên cầm quốc thư sang Việt Nam, nhưng triều đình Huế lo ngại không chịu tiếp. Thất bại trong âm mưu điều tra tình hình Việt Nam phục vụ âm mưu xâm lược, ngày 26/9/1856, tư bản Pháp đã trắng trợn nổ súng bắn phá các đồn luỹ ròi kéo lên khoá tất cả các đại bác bố trí ở trên bờ, sau đó tàu nhổ neo bỏ đi. Một tháng sau, ngày 24/10 tàu chiến Caprixio lại cập bến Đà Nẵng xin được gặp các quan lại triều đình để thương lượng, nhưng cũng bị cự tuyệt. Cuối cùng ngày 23/1/1857, phái viên của Napoleong III là Mongtinhi cập bến Đà Nẵng yêu cầu tự do truyền đạo và buôn bán. Thực ra đây chỉ là một chuyến đi dọn đường sẵn cho cuộc can thiệp vũ trang khi đánh xong Trung Quốc. Cho nên, ngay trước khi Mongtinnhi đến Đà Nẵng một tháng, Bộ trưởng Hải quân Pháp là Hamolanh (Hamelin)  đã tiếp viện thêm cho hạm đội Pháp ở Thái Bình Dương, và Bộ trưởng Ngoại giao Pháp là Oalépxki (Walewski) cũng đã ra lệnh cho Phó Đô Đốc Gionuiy, lúc đó đang chỉ huy hạm đội Pháp tham gia cuộc tấn công Trung Quốc, sau khi bắn phá và chiếm cứ xong Quảng Châu phải kéo ngay quân xuống đánh chiếm Việt Nam. Rõ ràng việc cử Mongtinhi sang triều đình Huế chỉ có giá trị ngoại giao hình thức, còn mọi mưu mô kế hoạch đều đã được bọn tư bản sắp đặt từ trước, chỉ đợi thời cơ và kiếm cớ để nổ súng. Vì thế, bản thân Mongtinhi đã có những hành động vô cùng trắng trợn. Vấp phải thái độ của triều đình Huế cương quyết cự tuyệt không tiếp, trước khi rút lui về nước, y đã đe doạ sẽ dùng vũ lực để trừng phạt nếu không đình chỉ việc cấm đạo, đồng thời y cũng cấp báo về nước yêu cầu cử binh chiếm gấp Nam Kì. Trước khi xuống tàu về nước, y còn lén lút đưa tên gián điệp đội lốt giáo sĩ Penloranh về Pháp yêu cầu Napoleong III cử binh sang Việt Nam bênh vực những người theo đạo.

Ngày 22/4/1857, Napoleong III quyết định cử ra Hội đồng Nam Kì để xét lại Hiệp ước Vecxai đã được kí kết năm 1787 giữa Bá Đa Lộc đại diện cho Nguyễn Ánh và Mongmoranh, đại diện cho Lui XVI. Âm mưu của tư bản Pháp lúc đó là muốn dựa vào văn kiện bán nước đầu tiên của Nguyễn Ánh để "Hợp pháp hoá" việc mang quân sang đánh chiếm Việt Nam. Nhưng trong thực tế thì hiệp ước đó đã bị thủ tiêu ngay sau khi kí kết, Chính phủ Pháp lúc đó không có điều kiện thi hành vì còn lo đối phó với ngọn sóng cách mạng đang dâng cao trong nước. Chúng không thể dựa vào cớ thi hành hiệp ước để đưa quân chiếm đóng Đà Nẵng, Côn Lôn đòi độc quyền thương mại và tự do truyền đạo ở Việt Nam như các điều khoản của hiệp ước đã ghi. Mặc dù vậy, chúng vẫn quyết định cử quân sang đánh chiếm Việt Nam. Tháng 7/1857, Napoleong III quyết định vũ trang can thiệp vào Việt Nam. Tư bản Pháp đã lấy cớ trả thù việc triều đình Huế không tiếp nhận quốc thư của Pháp do tàu chiến Catina đem đến tháng 9/1856, cho là "làm nhục quốc kì" Pháp. Mặc khác chúng còn lấy cớ bênh vực đạo, truyền bá văn minh công giáo để thanh thủ sự đồng tình ủng hộ dự luận công giáo ở Pháp và Việt Nam. Nhưng tất cả những lý do đó đều không che đậy nổi nguyên nhân sâu xa bên trong của mâm mưu xâm lược, đó là yêu cầu tìm kiếm thị trường và căn cứ ở viễn đông, nhất là ở miền nam Trung Quốc, của chủ nghĩa tư bản Pháp đang chuyển mạnh lên con đường đế quốc chủ nghĩa, đó là cuộc chạy đua giành giật thị trường giữa Pháp với các nước tư bản khác ở khu vực Viễn Đông, đặc biệt địch thủ cổ truyền là tư bản Anh.

 Cuối cùng, sau khi liên quân Pháp - Anh đánh xong Quảng Châu (5/1/1858) và dùng áp lực quân sự buộc phong kiến Trung Quốc kí điều ước Thiên Tân (27/6/1858), Gionuiy kéo ngay quân xuống hợp với quân Tây Ban Nha do Đại tá Palangca chỉ huy, rồi giong buồm kéo thẳng tới Đà Nãng dàn trận từ chiều ngày 31/8/1858. Pháp và Tây Ban Nha liên minh quân sự với nhau vì trong số các giáo sĩ nước ngoài bị triều đình Huế giam giữ, giết hại hồi đó có một số người Tây Ban Nha. Tư bản Tây Ban Nha cũng nhiều lần dòm ngó các vùng Đồ Sơn, Quảng Yên ngoài Bắc, nên Nữ hoàng Tây Ban Nha sẵn sàng câu kết với Pháp trong cuộc viễn chinh này để kiếm lợi.

HIỆP ƯỚC VERSAILLES (28/11/1787) - HIỆP ƯỚC BÁN NƯỚC ĐẦU TIÊN CỦA NGUYỄN ÁNH

Hiệp ước Versailles 1787 là hiệp ước được ký kết giữa một bên là hầu Montmorin đại diện cho vua nước Pháp Louis XVI, một bên là Bá Đa Lộc thay mặt Nguyễn Ánh. Nội dung chủ yếu là việc Nguyễn Ánh đồng ý cắt lãnh thổ Việt Nam cho Pháp để Pháp đưa quân đội, vũ khí sang giúp đánh nhà Tây Sơn.

Do nhiều yếu tố, đặc biệt là cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 lật đổ Hoàng Gia, nên nước Pháp đã không thi hành Hiệp ước Versailles 1787, tuy nhiên Hiệp ước này vẫn trở thành một mối di hoạ đối với Việt Nam. Về sau, Pháp đã dựa vào hiệp ước này để làm cớ yêu cầu nhà Nguyễn cắt đứt, và sau đó xâm lược Việt Nam vào năm 1868. Sau này tác giả Faure chép truyện Bá Đa Lộc, có nuối tiếc rằng nếu hiệp ước thành sự thực thì Pháp có thể chiếm Việt Nam sớm hơn mấy chục năm.

"Nếu chính phủ Pháp lúc ấy sẵn sàng giúp Bá Đa Lộc thì ông ấy đã giúp cho nước Pháp hoàn thành cuộc bảo hộ ở An Nam ngày từ cuối thế kỉ 18, để sau khỏi phải dùng đến chiến sự mới xong công việc."

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ KHIẾN NGUYỄN ÁNH PHẢI CẦU VIỆN NƯỚC PHÁP

Năm 1771, Tây Sơn khởi binh chống lại chúa Nguyễn, thế ngày một mạnh. Trong khi ở phía bắc vào năm 1774, chúa Trịnh cũng đưa quân tấn công và chiếm được Phú Xuân, thủ phủ của Đàng Trong vào năm 1775 trong cuộc xung đột lần cuối cùng giữa hai chính quyền cai trị Đàng Trong và Đàng Ngoài, chúa Nguyễn thua chạy vào đóng quân ở Quảng Nam, lập cháu là Nguyễn Phúc Dương làm thái tử kế vị. Quân Tây Sơn tiến ra đánh chiếm Quảng Nam, chúa Nguyễn ở thế "lưỡng đầu thọ địch" không chống nổi bèn cùng với cháu là Nguyễn Phúc Ánh (Nguyễn Ánh) chạy vào Gia Định, để lại Nguyễn Phúc Dương chống với quân Tây Sơn. Cho đến năm 1777, Nguyễn Huệ xua quân lấy được đất Gia Định, bắt giết chúa Nguyễn và Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Ánh chạy thoát được.

Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ về Quy Nhơn, Nguyễn Ánh lúc ấy 17 tuổi, tập hợp tôi tớ cũ chúa Nguyễn, khởi binh thu đất Gia Định và xưng vương năm 1780. Năm 1782, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đem quân vào đánh đất Gia Định, Nguyễn Ánh phải chạy về Ba Giồng, rồi ra đảo Phú Quốc. Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ rút về Quy Nhơn, Nguyễn Ánh lại tái chiếm Gia Định, năm 1783, Nguyễn Huệ lại mang quân đánh khiến Nguyễn Ánh phải lánh ra Phú Quốc. Nguyễn Huệ ra đánh Phú Quốc, Nguyễn Ánh chạy ra Côn Lôn, Nguyễn Huệ đem thuyền vây Côn Lôn, nhờ có bão mà Nguyễn Ánh chạy thoát ra đảo Cổ Cốt, rồi lại chạy về Phú Quốc.

Bấy giờ Nguyễn Ánh lương thực hết, phải hái rau, tìm củ chuối để ăn, thế cùng lực kiệt. Trước đây Nguyễn Ánh có quen với người Pháp, làm giám mục đạo Gia Tô tên là Bá Đa Lộc khi ấy Bá Đa Lộc đang ở Chantaboun (thuộc nước Xiêm), Nguyễn Ánh bèn sai người đến bàn việc. Bá Đa Lộc khuyên Nguyễn Ánh cầu viện nước Pháp, nhưng phải cho Hoàng Tử Cảnh đi làm tin thì mới được.

Mọi sự xắp xếp đã rồi, nhưng vì trái gió mùa, Bá Đa Lộc chưa đi tàu về Pháp được. Nguyễn Ánh trong bụng chưa quyết hẳn việc cầu viện nước Pháp, liền sang Xiêm La xin cứu viện. Nước Xiêm mang 3 vạn quân, 300 chiếc thuyền tiến sang Đại Việt. Nguyễn nhạc nghe tin, cử Nguyễn Huệ đem binh vào, đánh bại quân Xiêm La ở Trận Rạch Gầm - Xoài Mút vào tháng 1/1785.

DIỄN BIẾN VIỆC CẦU VIỆN NƯỚC PHÁP CỦA NGUYỄN ÁNH

Vào cuối năm 1783, Nguyễn Ánh giao cho Bá Đa Lộc vai trò "sứ giả đặc biệt của vua Nam Hà" với một tờ quốc thư 14 khoản cầu viện Pháp và quốc ấn để vị giám mục này được toàn quyền thay mặt Nguyễn Ánh sang Pháp cầu viện triều đình vua Louis XVI. Đi kèm với Bá Đa Lộc là con cả của Nguyễn Ánh là Nguyễn Phúc Cảnh và các tướng Phạm Văn Nhơn, Nguyễn Văn Liêm. Sinh mạng của cậu bé về sau trở thành hoàng tử trưởng nhà Nguyễn, khi ấy mới lên 4 tuổi bị đưa ra "thế chấp" làm con tin trong cuộc cầu viện này.

Nhưng mãi đến năm 1784, đoàn thuyền của Bá Đa Lộc mới rời Việt Nam rồi sau đó lại bị kẹt ở Pondichery (ẤN ĐỘ, thuộc Pháp). Đến giữa 1786 họ rời khỏi Pondichery và tới hải cảng Lorient ở Pháp vào tháng 2/1787. Mất một thời gian vận động khá lâu, đến đầu tháng 5/1787, Bá Đa Lộc cùng hoàng tử Cảnh mói được tiếp kiến vua Louis XVI. Ngày 28/11/1787, tại cung điện VERSAILLES, thượng thư Bộ Ngoại Giao Pháp là Armand Marc, Bá Tước De Montmorin, thay mặt vua Pháp ký với đại diện của Nguyễn Ánh là giám mục Bá Đa Lộc bản hiệp ước "Tương trợ tấn công và phòng thủ" (thường gọi là Hiệp ước Versailles 1787).

NỘI DUNG HIỆP ƯỚC VERSAILES 1787

Hiệp ước này gồm có 10 khoản, nội dung chính là việc vua Pháp cam kết cung cấp cho Nguyễn Ánh 4 chiếc tàu chiến loại Fregate cùng 1200 bộ binh 200 pháo binh và 250 lính da đen châu phi và các phương tiện trang bị vũ khí tương ứng, ngược lại Nguyễn Ánh phải chấp thuận.

- Cắt cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn cho Pháp, cho phép người Pháp được quyền tự do buôn bán và kiểm soát thương mại của người nước ngoài ở Việt Nam.
- Phải cung cấp thuỷ thủ, tàu bè, lương thực và quân nhu thiết yếu cho Pháp khi Pháp có chiến tranh với một nước khác ở khu vực Viễn Đông.
- Mỗi năm phải đóng một chiếc tàu, y như tàu của nước Pháp đã cho sang giúp, để đem sang trả cho vua nước Pháp.


QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HIỆP ƯỚC VERSAILES NĂM 1787

Ngày 27/12/1787, Bá Đa Lộc cùng hoàng tử Cảnh rời Pháp và trở lại Pondichery để đợi sự chi viện từ phía chính quyền Louis, nhưng ngày 14/7/1789 giới bình dân Pháp đã làm cuộc cách mạng lật đổ triều đại phong kiến Louis, thiết lập nền cộng hoà tư sản, cộng thêm việc Bá Tước nhận trách nhiệm chi viện là De Conway vốn chó hiềm khích với Bá Đa Lộc đã tấu sàm, nước Pháp tỏ ra không muốn nhắc lại hiệp ước cũ nữa.

Chờ mãi mà không nhận được sự chi viện từ Bá tước De Conway, Giám mục Bá Đa Lộc đã tự quyên góp tiền từ các thương gia có mưu đồ đặt cơ sở buôn bán ở Đại Việt cùng với số tiền 15000 Franc Pháp của gia đình mình cho, đem mua súng đạn và tàu chiến. Tháng 7 thì Bá Đa Lộc cùng hoàng tử Cảnh về đến Gia Định. Các hoạt động quyên góp tiền sau này hay xây dựng, sửa sang thành Gia Định, Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên, Biên Hoà, Bà Rịa, huấn luyện cơ đội pháo thủ, tổ chức bộ binh và rèn luyện binh lính theo lối châu Âu, trung gian mua tàu chiến và vũ khí... đều có sự góp sức của những người Pháp do Bá Đa Lộc chiêu mộ, kêu gọi. Việc củng cố Gia Định cộng thêm sự giúp đỡ của người Pháp đã giúp cho thế lực Nguyễn Ánh ngày càng mạnh, có thể đối đầu với Tây Sơn.

Các hoạt động giúp đỡ Nguyễn Ánh về mặt quân sự của Giám mục Bá Đa Lộc không phải là sự trợ giúp chính thức của chính phủ Pháp mà chỉ là hành động tự nguyện của một nhóm người theo sự chiêu mộ của Giám Mục. Thực tế này đã bị cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789 biến thành một sự nhập nhằng không rõ ràng và những biến động liên tục của nước Pháp từ cuộc cách mạng này khiến hơn nửa thế kỷ sau nước Pháp luôn phải hoài nghi và nuôi hy vọng hão huyền về những quyền lợi tại Việt Nam mà họ nghĩ lý ra họ phải được nhận. Chính phủ Pháp chỉ còn ghi nhớ hiệp ước 1787 về công cuộc trợ giúp của người Pháp đối với Nguyễn Ánh ở Việt Nam, ngoài ra không còn một bằng cớ xác đáng nào về vấn đề đó.

Do cách mạng Pháp nổ ra lật đổ Hoàng Gia, nước Pháp đã không thực thi điều khoản nào trong Hiệp ước Verssailles. Hiệp ước Versailles tuy được ký nhưng không còn giá trị.

HẬU QUẢ CỦA HIỆP ƯỚC VERSAILES 1787 ĐỐI VỚI NHÀ NGUYỄN VÀ VIỆT NAM

Việc Nguyễn Ánh nhờ Bá Đa Lộc cầu viện nước Pháp tuy không được nước Pháp thực hiện, nhưng cá nhân Bá Đa Lộc đã kêu gọi các thương nhân người Pháp trợ giúp cho Nguyễn Ánh.

Giáo sư Trần Văn Giàu đã nhận xét:
"... Đúng là sĩ quan Pháp đã giúp nhiều cho Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn. Cho nên trong triều đình Huế, đến khi Gia Long lên ngôi, vẫn còn mấy quan đại thần mắt xanh tóc đỏ. Khỏi phải nói trắng ra, các quan đại thần đó như Dayot, Chaigneau, Vannier… đều là tai mắt của Paris. Còn Paris thì các nhà cầm quyền từ đệ nhất đế chế đến đệ tam cộng hòa đều không lúc nào quên Hiệp ước Versailles 1787. Paris luôn nhắc nhở Huế cái hiệp ước “trời cho” ấy bằng đường ngoại giao và bằng đại bác của chiến hạm bắn lên Đà Nẵng.

Cầu viện Pháp, Hiệp ước Versailles đã tạo thành một “nghiệp chướng” cho triều đình Nguyễn.

Nhận xét