"Đặc biệt tinh nhuệ, anh dũng tuyệt vời, mưu trí táo bạo, đánh hiểm thắng lớn” là 16 chữ vàng gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển của Binh chủng Đặc công Quân đội nhân dân Việt Nam. Trải qua các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, đặc công Việt Nam đã ghi vào sử vàng dân tộc những chiến công thần kỳ hiển hách.
Binh chủng Đặc công là binh chủng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam, do Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp quản lý và chỉ đạo. Binh chủng Đặc công có nhiệm vụ tập trung nghiên cứu, tham mưu cho Bộ Quốc phòng Việt Nam xây dựng và phát triển các lực lượng Đặc công theo hướng tinh - gọn - chất lượng cao. Đây là một lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, quân nhân được tổ chức, trang bị và huấn luyện đặc biệt, có phương pháp tác chiến linh hoạt, táo bạo, bất ngờ, thường dùng để tập kích bất ngờ vào các mục tiêu hiểm yếu nằm sâu trong đội hình chiến đấu, bố trí chiến dịch và hậu phương của địch.
SAU ĐÂY MỜI CÁC BẠN CÙNG TÌM HIỂU VỀ BINH CHỦNG ĐẶC CÔNG LỰC LƯỢNG TINH NHUỆ NHẤT CỦA QUÂN ĐỘI VIỆT NAM
1: NGHỆ THUẬT NGUỴ TRANG SIÊU ĐỈNH
Một trong những khoa mục huấn luyện của bộ đội Đặc công là nguỵ trang. Tùy vào tình huống tác chiến, người lính phải chọn phương thức nguỵ trang để có thể hoà nhập với môi trường xung quanh.
"Nguỵ trang để đảm bảo bí mật, che mắt quân thù, che giấu đội hình chiến đấu trước các phương tiện trinh sát của đối phương, từ đó luồn sâu, lót sát vào lòng địch, dần tiếp cận mục tiêu".
Khi nguỵ trang, người lính đặc công phải đảm bảo hòa mình vào môi trường xung quanh, lặng lẽ tiếp cận mục tiêu. Nếu ở xa địch, chiến sĩ dùng tư thế đi khom; gần địch thì lê, trườn, lợi dụng địa hình, vận dụng thuần thục các tư thế tiếp cận mục tiêu, thực hiện cách đánh "nở hoa trong lòng địch".
Trường hợp tấn công mục tiêu được bố trí gần đồng ruộng, đầm lầy, bờ biển..., lính đặc công phải cởi trần, mặc một chiếc quần lót, sau đó bôi bùn lên khắp người để ngụy trang. Tuỳ theo điều kiện thổ nhưỡng ở nơi đặt mục tiêu, chiến sĩ có thể dùng bùn trắng, đen, đất đỏ... Khi mục tiêu ở gần đồi núi, rừng cây, các chiến sĩ sẽ được ngụy trang bằng quần áo cỏ trùm kín từ đầu đến chân, nếu không cử động thì không thể phát hiện.
Ở những mục tiêu chưa đột nhập được, chiến sĩ đặc công sẽ phải vùi mình dưới đất nhiều giờ đồng hồ để trinh sát và chờ thời cơ.
Trong khi nguỵ trang, nếu bị tác động của điều kiện bên ngoài như côn trùng nhỏ đốt, kiến cắn, các chiến sĩ vẫn phải im lặng chịu đựng, không được cử động.
"Quá trình huấn luyện nội dung này rất gian khổ, nhưng tất cả đều cố gắng vượt qua để đạt được mức điêu luyện, tàng hình trước mắt đối phương. Càng bí mật thì khả năng thắng lợi càng cao. Chúng tôi thấm nhuần rằng thao trường đổ mổ hôi, chiến trường bớt đổ máu", ông Hòa nói và thông tin thêm, đặc biệt khi vùi mình trong đất, cát, chiến sĩ phải chịu đựng sức nặng, sức nóng và cả những sinh vật không mấy thân thiện dưới đất.
Việc huấn luyện vùi mình trong đất của bộ đội đặc công được thực hiện từ thời gian ngắn 5 phút, 10 phút, sau đó nâng lên 30 phút và kéo dài nhiều giờ.
2: KỸ NĂNG VÕ CÔNG THƯỢNG THỪA
Ngoài kỹ thuật nguỵ trang, chiến sĩ đặc công còn phải rèn luyện hàng loạt nội dung khác như vượt hàng rào dây thép gai, bắn súng, võ thuật... Riêng các thành viên của đội chống khủng bố sẽ phải tập công phá (trong 5-7 năm), gồm các bài tập kết hợp khí công, vận công, bài tập bổ trợ và huấn luyện đổ treo nhà cao tầng; đổ bộ đường không bằng phương pháp nhảy dù khi máy bay cách mặt đất khoảng một km; đổ treo khi máy bay là là mặt đất...
Chính trị viên Đội chống khủng bố cho hay, nội dung huấn luyện trên đều rất nguy hiểm, chỉ một sơ suất nhỏ có thể phải trả giá bằng sức khoẻ và tính mạng. Vì vậy, mỗi chiến sĩ chống khủng bố bên cạnh ý chí của bản thân còn phải được sự ủng hộ của gia đình. "Kỹ thuật đổ treo của Việt Nam không thua kém lực lượng đặc nhiệm, biệt kích của nước ngoài. Có lần đội biệt kích Australia cùng huấn luyện với đặc công Việt Nam, họ không dám tập một số nội dung như leo dây chống sét vì cho rằng quá nguy hiểm"
Những tai nạn, những vất vả thường xuyên trong luyện tập không làm cho các chiến sĩ đặc công nhụt chí, mà trái lại, càng khiến họ thêm quyết tâm luyện tập để đạt đến tuyệt kỹ công phu đáng kinh ngạc, xứng đáng là những “truyền nhân” võ đặc công huyền thoại.
“Võ đặc công được chắt lọc từ tinh hoa của các phái võ cổ truyền dân tộc. Ví dụ như điểm mạnh của võ cổ truyền Việt Nam là “dĩ nhu chế cương, dĩ đoản chế trường”. Nói về quan điểm võ thuật, địch tấn công ta một đòn rất mạnh ta nhanh chóng né tránh, luồn lách tìm điểm sơ hở để tiêu diệt nhanh chóng và chính xác”. “Nói về lấy nhu thắng cương, trong võ cổ truyền gọi là dĩ hình hoán ảnh. Địch đấm một đòn rất mạnh vào giữa mặt, nếu ta chống đỡ nhất định sẽ bị thương, nhưng với nghệ thuật, cách đánh đặc công, ta hạ thấp trọng tâm cơ thể tránh đòn, tìm sơ hở đánh vào hạ bộ, chấn thủy hoặc nách, yết hầu, hoặc luồn ra phía sau triệt hạ vào điểm tựa của đối phương. Địch ngã xuống, ta dùng đầu gối đánh mạnh vào xương cụt làm tê liệt dây thần kinh thắt lưng, dùng tay đánh mạnh vào gáy làm địch bị tê liệt hoặc có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng. Thứ hai, võ cổ truyền làm cho đối phương mất thế thủ bằng cách đánh bất ngờ. Lưu ý, nếu ta đánh không đủ mạnh thì bị mất thế và bị đánh. Nên khi đánh bất ngờ phải thật nhanh, mạnh, dứt khoát, quật ngã, khống chế, bẻ các khớp, phối hợp đánh mạnh vào tử huyệt tiêu diệt đối phương”.
Nói thì đơn giản, nhưng để tiếp thu được tinh hoa võ học đặc công, các chiến sĩ phải trải qua quá trình luyện tập lâu dài, gian khổ. Để nằm được trên đống mảnh vỡ thủy tinh, người chiến sĩ phải tập nằm trên đống sỏi, đá dăm, dùng lực đè lên người theo cấp độ trọng lượng, thời gian chịu đựng tăng dần, dưới mọi điều kiện thời tiết. Tập thiết đầu công, thiết công cước cũng với phương pháp tương tự như vậy. Luyện tập là quá trình sáng tạo, bền bỉ. Anh Cường lấy ví dụ, để luyện chân cứng đè đá lên đập, ban đầu, chiến sĩ buộc vải mềm vào thân cây, tăng dần, buộc cao su, rồi bỏ hết vật mềm, đá thẳng vào thân cây. Hay khi luyện khí công, người chiến sĩ ôm đá tảng gập bụng ngồi dưới nước, trong điều kiện thời tiết giảm xuống 15, 160C…
Quá trình luyện tập gặp phải chấn thương là chuyện “như cơm bữa” đối với các chiến sĩ đặc công. Những chấn thương nặng không làm cho các anh nản chí, mà trái lại càng khiến các chiến sĩ đặc công có quyết tâm cao hơn
Theo Lữ đoàn phó bộ đội Đặc công, do đòi hỏi cao và quá trình huấn luyện khắc nghiệt, việc tuyển chọn bộ đội đặc công phải đảm bảo "ba gặp, bốn biết", gồm: gặp địa phương, gia đình, gặp công dân; biết về tình hình sức khỏe, trình độ văn hóa, lai lịch chính trị và hoàn cảnh gia đình. Sau khi được tuyển chọn, chiến sĩ đặc công sẽ huấn luyện từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp. "Bộ đội đặc công huấn luyện phải sát thực tế chiến đấu, môi trường và địa bàn địa hình tác chiến",
3: LỊCH SỬ BINH CHỦNG ĐẶC CÔNG
Cách đánh đặc công có từ rất sớm trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Từ Triệu Việt Vương vang danh nơi Bãi Sậy với chiến thuật ngày ẩn náu, đêm đem quân đánh úp, Lý Thường Kiệt với tư tưởng tiên phát chế nhân, bí mật đem đội quân tinh nhuệ sang đất địch đánh ngay trong lòng địch. Yết Kiêu, gia tướng của Trần Hưng Đạo cùng đội quân Trạo Nhi xuất quỷ nhập thần vào căn cứ thuỷ quân đục thuyền giặc... Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 19/3/1948, đội du kích Tân Uyên đã bí mật vượt qua các tuyến phòng thủ của địch, dùng lựu đạn, súng trường, tiêu diệt toàn bộ 10 tên địch ở tháp canh cầu Bà Kiên, mở ra giai đoạn của lực lượng chuyên đánh tháp canh, đồn bốt địch ở Nam Bộ. Cách đánh này được Quân khu 7 thống nhất gọi là công đồn đặc biệt, gọi tắt là đặc công, và chiến sĩ tham gia đánh tháp canh được gọi là chiến sĩ đặc công. Với sự lớn mạnh, trưởng thành của quân đội, các đơn vị đặc công cũng được thành lập ở các quân khu, các tỉnh. Ngày 19/3/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tham quan buổi trình diễn kỹ, chiến thuật của các đơn vị đặc công và công nhận đặc công là một binh chủng của quân đội nhân dân Việt Nam.

Nhận xét
Đăng nhận xét