Quá trình phát triển vũ khí hạt nhân của Trung Quốc

Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã phát triển và trang bị các vũ khí hủy diệt hàng loạt, gồm vũ khí hóa học và vũ khí hạt nhân. Trung Quốc đã tiến hành thử hạt nhân từ năm 1964, và tiến hành thành công Bom nhiệt hạch vào năm 1967. Các cuộc thử nghiệm hạt nhân tiếp tục cho đến năm 1996, khi Trung Quốc ký Hiệp ước Cấm thử Hạt nhân Toàn diện (CTBT). Trung Quốc sau đó đã tham gia Công ước về vũ khí sinh học và chất độc (BWC) năm 1984 và Công ước Vũ khí Hóa học (CWC) năm 1997.

Số lượng đầu đạn hạt nhân trong kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc là bí mật quốc gia. Có nhiều ước tính khác nhau về quy mô kho vũ khí của Trung Quốc. Theo ước tính của Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ, Trung Quốc có kho vũ khí với khoảng 260 đầu đạn tính đến năm 2015, là kho vũ khí hạt nhân lớn thứ tư trong số 5 quốc gia có vũ khí hạt nhân được Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân thừa nhận, Theo một số ước tính, nước này có thể "tăng hơn gấp đôi" "số lượng đầu đạn trên tên lửa có thể đe dọa Hoa Kỳ vào giữa những năm 2020".

Đầu năm 2011, Trung Quốc đã xuất bản sách trắng quốc phòng, trong đó lặp lại chính sách hạt nhân của nước này là duy trì sức răn đe tối thiểu với cam kết không sử dụng vũ khí hạt nhân trước. Trung Quốc tỏ ra không rõ ràng về việc chỉ duy trì răn đe hạt nhân ở mức tối thiểu, đồng thời với việc nước này liên tục triển khai thêm 4 tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân mới, đã làm dấy lên mối quan ngại về khả năng hạt nhân của Trung Quốc.

SAU ĐÂY MỜI CÁC BẠN CÙNG TÌM HIỂU VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VŨ KHÍ HẠT NHÂN CỦA TRUNG QUỐC

Mao Trạch Đông đã quyết định bắt đầu chương trình vũ khí hạt nhân sau khi diễn ra cuộc Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần 1 vào năm 1954-1955 tại Kim Môn và Quần đảo Mã Tổ. Mao Trạch Đông khi đó không có tham vọng có thể sánh ngang với kho vũ khí hạt nhân của Mỹ mà ông chỉ muốn có thể làm tăng uy tín ngoại giao của Trung Quốc. Việc xây dựng các nhà máy làm giàu uranium ở Bao Đầu và Lan Châu bắt đầu vào năm 1958, và xây dựng các nhà máy plutonium tại Tửu Tuyền và Lop Nur vào năm 1960. Liên Xô đã hỗ trợ Trung Quốc giai đoạn phát triển ban đầu bằng cách cử các cố vấn đến giúp đỡ trong các cơ sở sản xuất vật liệu phân hạch và, vào tháng 10 năm 1957, Liên Xô tiếp tục giúp đỡ nguyên mẫu thiết kế bom, tên lửa hạt nhân cùng với các công nghệ liên quan khác. Trung Quốc đã xuất khẩu quặng uranium sang Liên Xô, và đổi lại Liên Xô cung cấp cho Trung Quốc 2 tên lửa đạn đạo R-2 vào năm 1958. Tên lửa R-2 là nền tảng để Trung Quốc phát triển tên lửa DF-1.

Tuy nhiên cũng vào năm này, nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev đã gặp gỡ Mao Trạch Đông và thảo luận về kế hoạch ký hiệp định kiểm soát vũ khí cùng với Anh và Mỹ. Trung Quốc đã phản đối chính sách "chung sống hòa bình" thời kỳ hậu Stalin của Khrushchev. Mặc dù Liên Xô đảm bảo với Trung Quốc rằng Trung Quốc sẽ được bảo vệ dưới cái ô hạt nhân của Liên Xô, nhưng những bất đồng đã làm gia tăng sự chia rẽ Trung-Xô đang nổi lên vào thời điểm đó. Tháng 6 năm 1959, 2 quốc gia về cơ bản đã ngừng các thỏa thuận hợp tác về quân sự và kỹ thuật, và vào tháng 7 năm 1960, hoạt động hỗ trợ cho dự án nguyên tử của Trung Quốc đã bị dừng lại đột ngột, và các chuyên gia nguyên tử của Liên Xô đã được rút về nước.

Trung Quốc tiến hành thành công vụ thử hạt nhân đầu tiên vào ngày 16/10/1964, Vụ thử hạt nhân cuối cùng của Trung Quốc diễn ra vào ngày 29/7/1996. Tổng cộng Trung Quốc đã tiến hành 45 vụ thử nghiệm hạt nhân.

Trung Quốc đã có những tiến bộ vược bậc trong kỹ thuật thu nhỏ các đầu đạn hạt nhân của mình kể từ năm 1980. Đã có những cáo buộc, đặc biệt là báo cáo của Ủy ban đánh giá tình hình an ninh/thương mại Trung Quốc, thành tựu này đạt được nhờ việc Trung QUốc đã lén lút mua lại thiết kế của đầu đạn hạt nhân W88 (sử dụng cho tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm UGM-133 Trident II) cũng như công nghệ dẫn đường của tên lửa đạn đạo. Các nhà khoa học Trung Quốc tuyên bố họ đã có nhiều thành tựu trong lĩnh vực này nhưng nhấn mạnh rằng những tiến bộ này được thực hiện mà không cần những hoạt động gián điệp.

Do giữ bí mật nghiêm ngặt nên rất khó xác định chính xác quy mô và thành phần lực lượng hạt nhân của Trung Quốc. Ước tính thay đổi theo thời gian. Bản tóm tắt của Cơ quan Tình báo Quốc phòng năm 1984 ước tính kho hạt nhân của Trung Quốc bao gồm từ 150 đến 160 đầu đạn. Một báo cáo của Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ năm 1993 ước tính rằng lực lượng răn đe hạt nhân của Trung Quốc dựa vào 60 đến 70 tên lửa đạn đạo có vũ trang hạt nhân. Năm 2004, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đánh giá rằng Trung Quốc có khoảng 20 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa có khả năng nhắm mục tiêu Hoa Kỳ. Năm 2006, một ước tính của Cơ quan Tình báo Quốc phòng Hoa Kỳ đánh giá "Trung Quốc hiện có hơn 100 đầu đạn hạt nhân."

Tính đến năm 2011, kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc ước tính có khoảng 55–65 ICBM.

Tên lửa đạn đạo phóng từ đất liền
Tên lửa Dongfeng 5A là loại tên lửa 3 tầng nhiên liệu lỏng, trang bị 1 đầu đạn với tầm bắn lớn hơn 13.000 km. Vào năm 2000, Tướng Eugene Habiger của Không quân Hoa Kỳ, sau đó là tư lệnh lực lượng chiến lược Hoa Kỳ, đã làm chứng trước Quốc hội Hoa Kỳ rằng Trung Quốc có 18 tên lửa đạn đạo phóng từ giếng phóng DF-5. Từ những năm 2000, Quân đoàn pháo binh số 2 Trung Quốc đã triển khai 10 tên lửa nhiên liệu rắn DF-31 phóng từ xe phóng tự hành, có tầm bắn hơn 7.200 km và trang bị tới 3 đầu đạn MIRV.[24] Trung Quốc cũng phát triển phiên bản DF-31A, với tầm bắn hơn 11.200 km, và có khả năng mang 3-6 đầu đạn hạt nhân hồi quyển tấn công mục tiêu độc lập (MIRV).

Tên lửa đạn đạo liên lục địa
Tên lửa Dongfeng 5 (DF-5) là loại tên lửa ICBM 3 tầng của Trung Quốc. Nó có chiều dài 32,6 m và đường kính 3,35 m. Trọng lượng 183 tấn và có tầm bắn 12.000–15.000 kilometers. 71–72 Tên lửa DF-5 phóng thử nghiệm lần đầu vào năm 1971 và được quân đội Trung Quốc biên chế trong 10 năm sau đó. Một trong những nhược điểm của tên lửa là mất từ ​​30 đến 60 phút để tiếp nhiên liệu.

Tên lửa hành trình mang đầu đạn hạt nhân
Tên lửa hành trình DongHai 10 (DH-10) là thế hệ tên lửa hành trình tấn công mục tiêu trên đất liền thế hệ thứ 2 của Trung Quốc, có tầm bắn 4.000 km, hệ thống dẫn đường quán tính, GPS, hệ thống lập bản đồ địa hình, và hệ thống ngắm bắn mục tiêu pha cuối bằng cách so sánh ảnh kỹ thuật số. Tên lửa có bán kính chính xác khoảng 10m.

Tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm
Trung Quốc hạ thủy tàu ngầm hạt nhân thế hệ 2 đầu tiên vào tháng 4 năm 1981. Hiện tại Hải quân Trung Quốc có 1 tàu ngầm SSBN Kiểu 092 với lượng giãn nước 8000 tấn. Tàu ngầm Type 092 thứ 2 đã mất trong một tai nạn vào năm 1985. Tàu ngầm Kiểu 092 được trang bị với 12 tên lửa SLBM Julang-1 với tầm bắn 2150–2500 km. JL-1 được phát triển từ tên lửa DF-21.  Trung Quốc trang bị tên lửa JL-2 trên tàu ngầm SSBN Kiểu 094, với 12 tên lửa, có tầm bắn 14000 km.  Trung Quốc hiện đang phát triển SSBN Kiểu 096 được cho là có khả năng mang được 24 tên lửa JL-3.

Lực lượng máy bay ném bom chiến lược
Lực lượng máy bay ném bom hạt nhân chiến lược của Trung Quốc phần lớn dựa trên thiết kế sao chép máy bay ném bom Liên Xô. Không quân Trung Quốc hiện có trang bị 120 chiếc H-6 (dựa trên Tupolev Tu-16). Những máy bay ném bom này được trang bị vũ khí hạt nhân cũng như vũ khí thông thường.:93–98 Ngoài ra Trung Quốc còn có khoảng 80 máy bay tiêm kích bom Xian JH-7 Phi báo với tầm bay và tải trọng vũ khí tương đương F-111 cũng có khả năng mang vũ khí hạt nhân. Trung Quốc còn mua tiêm kích Sukhoi Su-30 của Nga; hiện nay có khoảng 100 chiếc Su-30 (MKK và phiên bản MK2) có trong trang bị của Không quân Trung Quốc, với khả năng mang vũ khí hạt nhân chiến thuật.[25]:102  Trung Quốc hiện đang tiến hành phát triển máy bay ném bom H-8 nâng cấp từ H-6 và Xian H-20 có tính năng tương đương với B-2 của Mỹ.

Nhận xét