TIỂU SỬ ĐẠI TƯỚNG VĂN TIẾN DŨNG NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG

ĐẠI TƯỚNG Văn Tiến Dũng (2 tháng 5 năm 1917 – 17 tháng 3 năm 2002), bí danh Lê Hoài, là một vị Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (1953 – 1978), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1980 – 1986), Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (1984 – 1986), một trong những tướng lĩnh danh tiếng của Việt Nam. Trong chiến tranh Việt Nam, ông trực tiếp tham gia chỉ đạo các chiến dịch Đường 9 – Nam Lào (năm 1971), chiến dịch Trị – Thiên ( năm 1972), Chiến dịch Tây Nguyên (năm 1975). Tháng 4 năm 1975, ông giữ chức Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định (sau đổi tên thành Chiến dịch Hồ Chí Minh).

SAU ĐÂY MỜI CÁC BẠN CÙNG TÌM HIỂU VỀ TIỂU SỬ CHI TIẾT ĐẠI TƯỚNG VĂN TIẾN DŨNG NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG

Đại tướng Văn Tiến Dũng Bí danh: Lê Hoài 
Ngày sinh: 2-5-1917  Quê quán: Xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm (nay là quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) 
Tham gia cách mạng: Năm 1936 
Nhập ngũ: Năm 1945 
Vào Đảng Cộng sản Việt Nam: Năm 1937 
Đại tướng: Năm 1974

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 năm 1937. Từ 1939 đến 1944, ông bị thực dân Pháp bắt giam 3 lần, vượt ngục 2 lần. Tháng 11 năm 1939, ông bị Pháp đày đi nhà tù Sơn La. Hai năm sau, trên đường bị địch áp giải từ Sơn La về Hà Nội, ông đã trốn thoát. 

Ông từng đảm nhiệm chức vụ Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ năm 1944. Tháng 1 năm 1945, ông bị chính quyền thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt.

Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ Ủy ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ (Bộ Tư lệnh Quân sự miền Bắc Đông Dương), được phân công phụ trách tổ chức Chiến khu Quang Trung, kiêm Bí thư Khu uỷ Chiến khu Quang Trung. Tháng 8 năm 1945, ông chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình và Thanh Hoá.

  Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông được giao nhiệm vụ lập chiến khu II (gồm 8 tỉnh phía tây bắc và tây nam Bắc Bộ), làm Chính uỷ Chiến khu, tham gia Quân ủy Trung ương. Ngày 20/11/1946 ông làm Phó Cục trưởng Cục Chính trị.

Từ năm 1946 đến 1949, ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam (nay là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam), Phó bí thư Quân uỷ Trung ương. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông từng là Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Đại đoàn 320.

Năm 1950: Chính ủy Quân khu 3; 

Từ năm 1951 đến 1953: Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên của Đại đoàn 320; 

Tháng 11-1953: Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam;

Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ: Đồng chí là trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi hành Hiệp định Geneve về Việt Nam; 

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Đồng chí đảm nhiệm chức vụ Tổng Tham mưu trưởng, trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch: Đường 9 - Nam Lào (1971); Trị - Thiên (1972); Tây Nguyên (1975), Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975).

Từ tháng 5 năm 1978 đến năm 1986, ông được giao nhiệm vụ làm Phó Bí thư thứ nhất, rồi Bí thư Quân ủy Trung ương. Từ tháng 2 năm 1980 đến 1986, ông giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng.

Từ năm 1984 đến 1986: Bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương (nay là Quân uỷ Trung ương).

Ông lâm bệnh nặng và từ trần hồi 17h30' ngày 17/3/2002 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 ở Hà Nội, hưởng thọ 85 tuổi, an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch.

Nhận xét