PHÁP ĐÁNH CHIẾM 3 TỈNH MIỀN TÂY NAM KÌ NĂM 1867


Sau khi hoà ước Nhâm Tuất 5/6/1862 được kí kết giữa Đế quốc Pháp và triều đình Đại Nam, làn sóng phản đối dâng lên rất cao trong nhân dân, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa bùng nổ. Đất Gia Định là vùng khai nghiệp và cũng là nơi cung cấp lương thực của triều Nguyễn nên vua Tự Đức vẫn cố gắng điều đình chuộc lại. Nhưng thái độ của Pháp là phải dứt khoát chiếm đứt 3 tỉnh để làm bàn đạp mở rộng chiếm đóng về sau. Cho nên, sau khi Hoà ước được chính phủ Pháp phê chuẩn, tháng 4/1863, Bona đã ra ngay Huế buộc vua Tự Đức phái kí chuẩn y hoà ước.

Tháng 6/1863, triều đình Huế cử phái bộ do Phan Thanh Giản dẫn đầu sang Pháp với nhiệm vụ xin sửa lại hoà ước 1862 và chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kì. Phái đoàn sang Pháp vào lúc tình hình thuận lợi để thương thuyết: nước Pháp đang bị thua to ở Mexico, dư luận nước Pháp phản đối các cuộc viễn chinh vừa tốn kém vừa nguy hiểm, và sẵn sàng điều đình với triều đình Huế với những điều khoản mới. Nhưng phần do thái độ của phái đoàn thiếu tự tin và cứng rắn, phần do sự phá hoại của thế lực hiếu chiến ở Pháp, cuộc điều đình cuối cùng thất bại. 

Tại Pháp lúc này, ngoại trừ những người có quan hệ với Hội Ngoại quốc truyền giáo và các công ty làm ăn ở Đông Á, không mấy ai quan tâm tới xứ Nam Kỳ, kể cả Hoàng đế Napoléon III. Tuy nhiên, do sự nỗ lực vận động của Bộ trưởng Hải quân Pháp là ông Chasseloup-Laubat mà sau đó, Thiếu tướng De la Grandière trở thành Thống soái Pháp tại Nam Kỳ và ông này cự tuyệt mọi lời đề nghị chuộc đất của nhà Nguyễn.

Hoà ước (5/6/1862) vẫn được thi hành, và việc xin chuộc lại ba tỉnh không thành. Không những vậy, thực dân Pháp còn chuẩn bị ráo riết để khi có thời cơ, đánh chiếm luôn cả ba tỉnh miền Tây Nam Kì.

Để dọn đường cho việc thực hiện âm mưu này, năm 1863, thực dân Pháp đã thừa lúc phong kiến Miên sơ hở để chiếm đóng kinh thành Nam Vang (Phnom Penh), sau đó dùng áp lực quân sự buộc vua Norodom nhận quyền bảo hộ của chúng. Sau khi ba tỉnh miền Đông Nam Kì và nước Cao Miên lọt vào tay Pháp, số phận ba tỉnh miền Tây Nam Kì có thể xem là đã định đoạt.

Nhiều lần Pháp vu cáo quan lại triều đình ba tỉnh miền Tây ngấm ngầm ủng hộ hay tổ chức phong trào chống Pháp ở ba tỉnh miền Đông. Chúng còn tuyên bố duy trì các quan lại triều đình Huế ở miền Tây là nguy cơ thường trực cho "xứ Nam Kì thuộc pháp" và láo xược báo trước cho đại diện triều đình Huế ở Vĩnh Long là Phan Thanh Giản rằng: một hành động cừu địch như vậy buộc chúng phải thôn tính các tỉnh còn lại. Nhưng triều đình Huế trước sau vẫn theo đuổi đến cùng trước chính sách cầu hoà chuộc đất, không những đã không tích cực đề phòng trước âm mưu địch, mà còn có nhiều hành động vô cùng có hại cho phong trào chống Pháp, như giải tán nghĩa quân miền Đông, nghiêm cấm nhân dân miền Tây ủng hộ miền Đông kháng chiến...

Nắm chắc tình hình đó, Pháp càng muốn hành động gấp. Tháng 10 năm 1866, chúng cử phái viên ra Huế đưa thư thăm dò thái độ triều đình Huế, hứa hẹn nếu bằng lòng giao luôn ba tỉnh miền Tây thì chúng sẽ giúp triều đình tiễu trừ hết giặc biển và sẽ đình hết mọi khoản tiền bồi thường. Đến tháng 2/1867 Pháp một lần nữa lại phái người ra Huế đòi trả tiền bồi thường chiến phí và nhượng ba tỉnh miền Tây cho chúng.

Sau khi chuẩn bị xong mọi mặt, sáng 20/6/1867, Pháp kéo quân tới dàn trận trước cửa thành Vĩnh Long. Kinh lược sứ miền Tây Phan Thanh Giản và Trấn thủ Vĩnh Long Trương Văn Uyển vội xuống tàu địch để thương thuyết. Nhưng Pháp quyết tâm lấn tới, đưa thư buộc phải nộp thành không điều kiện. Trong tình thế thân cô thế cô, cuối cùng Phan Thanh Giản phải nộp thành cho chúng không một chút kháng cự. Theo ý Pháp, ông còn viết thư cho quan quân hai tỉnh An Giang, Hà Tiên bảo nộp thành để "tránh mọi sự đổ máu vô ích". Cho nên sau khi lấy xong thành Vĩnh Long, địch chia quân chiếm tỉnh lị An GiangChâu Đốc (21/6/1867), rồi chiếm luôn Hà Tiên (24/6/1867) không tốn một viên đạn. Các quan lại triều đình ở hai nơi vốn sợ Pháp nên sẵn sàng nộp thành cho giặc mặc dù quân dân ở cả hai nơi đều chống giặc đến cùng.

Lấy xong ba tỉnh miền Tây, thực dân Pháp cho người ra Huế báo sự việc đã rồi. Triều đình không hề phản ứng, mà chỉ xin đổi ba tỉnh miền Tây mới mất để lấy lại tỉnh Biên Hoà, nhưng không được Pháp chấp nhận. Còn Phan Thanh Giản thì sau khi để mất ba tỉnh đã nhịn ăn trong 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự vẫn.

Không cần có hiệp ước mới, Nam Kỳ Lục tỉnh đã biến thành thuộc địa của nước Pháp.

Nhận xét