PHÁP ĐÁNH BẮC KÌ LẦN 2 VÀ TRẬN CẦU GIẤY NĂM 1883


Sau cuộc tấn công xâm lược Bắc Kì lần thứ nhất thất bại 1873
 và việc kí hoà ước Giáp Tuất năm 1874, tư bản Pháp ngày càng phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ. Từ năm 1874, chủ nghĩa tư bản Pháp bước vào giai đoạn mới, giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Kinh tế tư bản Pháp trên đà tiến sang chủ nghĩa đế quốc, có nhu cầu ngày một lớn về lợi nhuận, thị trường, nguyên liệu, nhân công, nên cũng vội lao đầu vào cuộc chạy đua giành giật thuộc địa trong những năm cuối thế kỉ XIX. Từ sau năm 1880, giai cấp tư sản Pháp ngày càng ráo riết xúc tiến âm mưu xâm lược Việt Nam. Từ nay, chủ trương đánh chiếm Bắc Kì nói riêng và cả nước Việt Nam nói chung, không còn chỉ là của một nhóm con buôn, là hành động phiêu lưu của bọn thực dân hiếu chiến ở Nam Kì như trong thời kì trước, mà đã trở thành chủ trương chung của bọn tư bản tài phiệt nắm quyền ở Pháp.

Để chuẩn bị thời cơ và điều kiện hành động mở rộng xâm lược, từ sau năm 1875, tư bản Pháp lợi dụng các điều khoản rộng rãi của điều ước 1874 đã phái người đi lại nhiều nơi ở Bắc Kì để điều tra các tài nguyên, thăm dò các đường sông, đường biển, đặt đường điện thoại, vẽ bản đồ gửi về Pháp. Đồng thời, triệt để lợi dụng việc triều đình nhờ đàn áp những cuộc nổi loạn ngoài Bắc, chúng đưa quân vào mỗi ngày một đông hơn. Bọn thực dân Pháp ở Nam Kì cũng sẵn sàng chuẩn bị. Le Myre De Vilers sang làm Thống đốc Nam Kì từ năm 1879, chấm dứt thời kì độc tài quân sự kèo dài suốt 20 năm (1859 - 1879) của những đô đốc, đã chú ý củng cố thuộc địa Nam Kì về mọi mặt để có thể làm bàn đạp hiệu lực trong cuộc đánh chiếm Bắc Kì sắp tới. Bằng một số thủ đoạn cải cách bịp bợm về chính trị và tư pháp, như thành lập Hội đồng quản hạt Nam Kì, đặt bộ máy tư pháp riêng ở các tỉnh và Sài Gòn, De Vilers nhằm liên kết chặt chẽ hơn với các tầng lớp trên trong xã hội. Trên cơ sở đó, cúng cố thêm một bước quyền thống trị thực dân để dễ trấn áp quần chúng hơn. Đờ Vile hiểu rất rõ việc xây dựng hậu phương ổn định và vững chắc là điều kiện tối cần khi mở rộng chiếm đóng ra Bắc Kì và Trung Kì để hoàn thành việc đánh chiếm Việt Nam.

Về quân sự, thực dân Pháp ở Nam Kì trong thời kì này đẩy mạnh việc bắt lính nguỵ. Các đội lính mã tà và lính tập được thành lập, vừa để trấn áp phong trào nhân dân miền Nam, vừa để chuẩn bị lực lượng xâm lược miền Bắc. Để chi phí cho các mặt hoạt động trên, thực dân Pháp ở Nam Kì càng ra sức bóc lột vơ vét nhân dân ta, mọi loại thuế đều đánh rất nặng, nhất là các loại thuế gián thu, như thuế thuốc phiện, thuế rượu, thuế muối. Do nhu cầu bóc lột và thống trị thuộc địa, cũng như do nhu cầu của việc chiếm đóng Bắc Kì sắp tới, thực dân Pháp tìm mọi cách tăng cường nạn sưu dịch nặng nề.

Quyền lợi kinh tế ở Bắc Kì ngày càng nhiều, tư bản Pháp ngày càng nôn nóng muốn đánh chiếm gấp. Mặt khác, từ năm 1878 trở đi, tư bản các nước Anh, Đức, Tây Ban Nha cũng muốn thương thuyết với triều đình Huế càng làm cho thực dân Pháp thấy cần hành động.

Để có cớ vũ trang can thiệp, năm 1882 chúng lấy cớ triều đình Huế vi phạm Hiệp ước năm 1874, như cho đoàn quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc ngăn trở việc tàu thuyền đi lại buôn bán trên sông Hồng, tiếp tục chính sách tàn sát đạo, đàn áp những người cộng tác với Pháp, giao thiệp với nhà Thanh Trung Quốc. Chuẩn bị mọi mặt xong xuôi, Chính phủ Pháp bắt đầu gửi thêm quân sang tăng viện cho đội quân đồn trú ở Bắc Kì. Chủ trương của tư bản Pháp lúc này là muốn lợi dụng sự yếu hèn của triều đình Huế để dùng lực lượng quân sự làm áp lực buộc phải công nhận nền bảo hộ của Pháp trong cả nước.

PHÁP ĐÁNH THÀNH HÀ NỘI 25/4/1882
Thi hành chủ trương trên, Thông đốc Nam Kì De Vile giao quyền chỉ huy đánh chiếm Bắc Kì cho Đại tá hải quân Rivie (Henri Riviere). Cuộc kéo quân của Rivie đánh chiếm Bắc Kì đã được chuẩn bị từ cuối năm 1881. Này mồng 3/4/1882, quân Pháp đổ bộ lên Hà Nội. Tổng đốc Hà Nội bấy giờ là Hoàng Diệu, vì chưa có lệnh của triều đình nên không dám đối phó ngay, mặc dù thực dân Pháp đã vi phạm trắng trợn Hiệp ước năm 1874.

Quân đội Pháp dưới quyền Trung tá hạm trưởng Henri Rivière rời Sài Gòn ngày 26 tháng 3 năm 1882 với 2 tàu chiến Drac và Parseval, chở theo 2 đại đội thủy bộ binh do thiếu tá Chanu chỉ huy, một toán biệt phái xạ thủ An Nam, 5 tàu sà-lúp máy hơi nước, mỗi binh sĩ được trang bị 200 viên đạn. Trước khi lên đường, Henri Rivière được lệnh phải tuân thủ hiệp định đã ký và chỉ được dùng vũ lực trong trường hợp cần thiết, tuy nhiên người ta cũng hiểu rằng chỉ cần có phản ứng nhỏ của quan lại Đại Nam thì Rivière lập tức hành động. Đại đội quân binh Pháp tới Hải Phòng ngày 2 tháng 4 rồi dùng tàu sà-lúp đưa quân đến Hà Nội ngày 3 tháng 4 năm 1882, rồi đóng quân ở Đồn Thủy hiện đang có 2 đại đội thủy bộ binh đóng giữ dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Berthe de Villers. Tổng số quân Pháp đóng ở ngoài thành Hà Nội lúc này là 600 bộ binh gồm 450 lính thủy quân lục chiến, 130 lính thủy và 20 lính bản xứ.

Được tin quân Pháp động binh, quan binh Bắc Kỳ lo phòng bị chống giữ. Henri Rivière không được tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu tiếp đón long trọng có ý không hài lòng và gợi sự ra bằng cách cho rằng các việc sửa soạn phòng bị của quan binh triều đình ở Bắc Kỳ là có tính cách thù địch và khiêu khích.

Ngày 25 tháng 4 năm 1882, vào lúc 5 giờ sáng. H.Rivière gởi tối hậu thư đến Tổng đốc Hoàng Diệu hạn đến 8 giờ sáng thì trong thành phải giải giáp và các quan lại phải đến trình diện tại Đồn Thủy nếu không Rivière sẽ chiếm thành. Trước đó triều đình Huế đã phái ngay Tả thị lang bộ Hộ Nguyễn Thành Ý vào Sài Gòn biện bạch về những lý do khiến cho người Pháp phải động binh đồng thời cũng gửi khẩn thư lệnh cho quan binh Bắc Kỳ phải giữ nguyên trạng thành Hà Nội như đã có trước khi các đội quân của H. Rivière kéo đến nhưng khẩn thư nầy tới quá trễ. Quân quan nhà Nguyễn trong thành Hà Nội tổ chức chống cự đơn độc mà không có sự chi viện kịp thời của các cánh quân từ Sơn Tây (Hoàng Kế Viêm, Lưu Vĩnh Phúc) và Bắc Ninh (Trương Quang Đản), mặc dù cánh quân của Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc đóng ở Phủ Hoài (Dịch Vọng, Từ Liêm) cách Hà Nội không xa.

Hạn trả lời chưa hết, quân Pháp đã bắt đầu nổ súng. Đúng 8 giờ 15, các pháo thuyền Fanfare, Surprise, Massue và Carbine từ bờ sông Hồng bắn đại bác vào thành. Tới 10 giờ 45, quân Pháp đổ bộ tấn công vào thành. Vào lúc 11 giờ thì quân Pháp chiếm được thành. Thiếu tá Berthe des Villers và 3 binh sĩ Pháp bị thương. Trong thành Hà Nội, Hoàng Diệu cùng lãnh binh Hồ Văn Phong chỉ huy phòng thủ cửa Bắc, đề đốc Lê Văn Trinh giữ của Đông, lãnh binh Lê Trực giữ cửa Tây và lãnh binh Nguyễn Đình Đường giữ cửa Nam. Phía quân triều đình có 40 tử trận và chỉ có 20 bị thương, vì đa số đã binh lính đều bỏ thành chạy trốn. Ở cửa Đông và cửa Nam, Lê Văn Trinh và Nguyễn Đình Đường sợ hãi bỏ trốn. Tổng đốc Hoàng Diệu cố gắng chống cự nhưng quân Pháp đã tràn vào thành, đành treo cổ tự vẫn dưới một cái cây trước Võ Miếu, thọ 54 tuổi.

Ngay từ khi thực dân Pháp bắt đầu nổ súng, Hoàng Diệu đã dẫn đầu tướng sĩ xông lên mặt thành chỉ huy cuộc chiến đấu. Trận đánh đang diễn ra ác liệt thì kho thuốc súng trong thành bỗng nhiên bốc cháy khiến cho tinh thần quân sĩ hoang mang dao động. Chớp thời cơ, quân Pháp dốc lực lượng phá vỡ của Tây và cửa Bắc, rồi ồ ạt tràn vào thành.

Khi thấy cửa thành bị phá và quân sĩ đã rối loạn không thể duy trì cuộc chiến đấu được nữa, Hoàng Diệu quay về dinh mặc triều phục chỉnh về, vào Hành cung bái vọng, thảo một tờ biểu để lại cho vua, rồi vào vườn Võ Miếu thắt cổ tự tử. Các quan lại dưới quyền ông khi thấy không còn điều kiện chiến đấu nữa, người thì bỏ chạy, người thì bị giặc bắt.

Sau khi chiếm xong thành Hà Nội và tịch thu nhiều tiền bạc, Rivie cho quân phá huỷ các cổng thành, phá đại bác, vứt thuốc đạn xuống hào nước, rồi cho người đi gọi Án sát Tôn Thất Bá về giao cho coi một phần thành với số quân hạn chế là 200 người, còn y thì chiếm hành cung. Đồng thời, y còn sửa sang củng cố khu nhượng địa ngoài bờ sông để đề phòng quân ta từ ngoài đánh vào, chiếm luôn Sở thương chính Hà Nội và Hải Phòng.

Chủ trương của thực dân Pháp lúc đó là cấp tốc trong ba ngày phải làm sao bắt vua Tự Đức kí điều ước mới, nhận cho chúng quyền đóng 600 quân tại Hà Nội, cho tàu chiến Pháp tự do đi lại khắp nơi, và cho chúng độc quyền thương chính. Được như vậy, theo chúng là đủ để đặt sự bảo hộ của Pháp hoàn toàn trên đất Việt Nam, ít nhất là trên đất Bắc Kì.

PHÁP ĐÁNH THÀNH NAM ĐỊNH NĂM 1883
Ngày 23 tháng 3 năm 1883, Henri Rivière để Berthe de Villers cùng 400 quân ở lại Hà Nội để chỉ huy quân Pháp tiến tới Nam Định. Tới ngày 25 thì Rivière đến Nam Định, một lần nữa kịch bản chiếm thành Hà Nội được lặp lại khi tổng đốc Nam Định không tới gặp Rivière theo thư yêu cầu và lập tức quân Pháp chiếm thành Nam Định vào ngày 27 tháng 3. Thiệt hại nặng nhất của quân Pháp trong trận này là cái chết của trung tá Carreau. Sự kiện này đã khiến chính phủ Pháp lo lắng và một lần nữa ra lệnh cho quân Pháp chỉ được can thiệp khi thực sự cần thiết. Quyết định của chính phủ Pháp chứng tỏ người Pháp vẫn đang lưỡng lự trước việc mở một cuộc chiến tranh toàn diện ở Đại Nam.

Trong lúc Rivière ở Nam Định thì tại Hà Nội, lực lượng của de Villers bị 4.000 quân tấn công trong đêm ngày 26 và 27 tháng 3. Tuy quân Pháp ở Hà Nội đẩy lui được hai cuộc tấn công buổi đêm này nhưng tình hình nghiêm trọng vẫn buộc Rivière phải trở về Hà Nội ngày 2 tháng 4 đồng thời đề nghị đô đốc Mayer, chỉ huy hải quân Pháp ở Trung Quốc, đưa quân ứng cứu.

Việc Rivière đánh chiếm Nam Định đánh dấu một bước leo thang quan trọng thể hiện tham vọng của người Pháp tại Bắc Kỳ, và có hệ quả nghiêm trọng. Nhà Thanh bắt đầu ngầm hỗ trợ chính quyền nhà Nguyễn chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp. Sự can thiệp của quân Thanh tại Bắc Kỳ cuối cùng dẫn đến cuộc chiến tranh Pháp-Thanh sau này.

TRẬN CẦU GIẤY NĂM 1883

Sau khi nhận được yêu cầu cứu viện của Rivière, chỉ huy hải quân Pháp ở Trung Quốc là đô đốc Mayer lập tức đưa quân Pháp tới ứng cứu, lực lượng này tới Hà Nội ngày 14 tháng 5 năm 1883. Trong lúc đó người Pháp ở Hà Nội tiếp tục bị tấn công bởi một lực lượng mạnh từ 15 cho tới 20.000 quân. Sau khi quân tiếp viện của Mayer tới nơi, lực lượng Pháp bắt đầu quay lại phản công. Ngày 15, người Pháp đốt khu vực đồn trú của quân Cờ đen, một ngày sau đó quân Pháp dưới sự chỉ huy của Berthe de Villers tiến tới ngã ba sông Đuống (canal des Rapides). Tuy nhiên Henri Rivière vẫn cảm thấy bất an và trong lúc chờ lực lượng cứu viện cho phép người Pháp chiếm Bắc Ninh và Sơn Tây, Rivière quyết định vào ngày 19 tháng 5 sẽ rút khỏi Hà Nội để tiến về Phủ Hoài theo hướng Sơn Tây. Tối ngày 18, Rivière cho triệu tập các sĩ quan Pháp để thông báo quyết định chuyển quân, ông ta cho rằng hành động này của quân Pháp không có gì bất thường nên sẽ ít bị đối phương chú ý. Tuy nhiên Rivière không ngờ rằng kế hoạch của mình đã bị một người hầu gốc Hoa nghe được.

4 giờ sáng ngày 19 tháng 5 NĂM 1883, lực lượng Pháp do Berthe de Villers chỉ huy bắt đầu xuất phát, Henri Rivière cũng có mặt trong đội quân này, cùng lúc một nhóm quân Pháp do đại úy Jacquin chỉ huy được lệnh canh chừng cho cuộc hành quân. Tới 6 giờ sáng thì các cuộc đụng độ giữa hai bên bắt đầu và quân Pháp chiếm được Cầu Giấy. Được thông báo trước về kế hoạch của người Pháp, quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc đã phục sẵn với đại bác ở khu vực làng Hạ Yên Khê (còn gọi là Hạ Yên Quyết) bên trái Cầu Giấy.[63] Khi quân Pháp tiến gần làng thì lính Cờ đen bắt đầu nổ súng làm Berthe de Villers thiệt mạng. Nhận thấy đối phương với lực lượng đông đảo có dấu hiệu chặn đường rút lui của mình, Rivière ra lệnh cho quân Pháp vừa đánh vừa lùi, một loạt lính Pháp cùng hai sĩ quan Brisis và Clerc bị giết, một số khác bị thương. Trong khi đang lùi quân thì một khẩu đại bác của quân Pháp bị rơi xuống ruộng lúa buộc Rivière phải chỉ huy quân kéo khẩu súng lên đường vì không muốn nó lọt vào tay quân Cờ đen. Bất ngờ quân Cờ đen nổ súng vào vị trí của Rivière khiến ông ta tử vong cùng viên đại úy Jacquin và một lính thủy có tên Moulun. Sau khi Rivière chết, quân Cờ đen tiến tới cắt đầu và tay của ông ta để làm chiến lợi phẩm.[64] Đến 9 giờ 30 thì tàn quân Pháp rút về tới thành Hà Nội trong sự truy đuổi ráo riết của quân Cờ đen. Quân Pháp trong thành buộc phải cố thủ và phái người tới Hải Phòng xin tiếp viện.

TÌNH HÌNH HAI BÊN SAU TRẬN CẦU GIẤY
Chiến thắng Cầu Giấy lấn thứ hai (19/5/1883) làm cho nhân dân cả nước vô cùng phấn khởi, nếu có lệnh là nhất tề nổi dậy đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi. Giặc Pháp ở Hà Nội vô cùng hoang mang, lo sợ. Hai trăm tên sống sót sau trận đánh đã chạy thục mạng về Đồn Thuỷ, run sợ chờ đợi những đòn sấm sét của quân dân ta. Một tên trong bọn chúng đã ghi lại tình trạng sụp đổ tinh thần của chúng như sau: "Thực là một cuộc sống kinh khủng đối với một dúm người từng đêm chờ đợi kết liễu cuộc đời". Bộ chỉ huy Pháp cũng đã có lệnh chuẩn bị rút hết quân ở Hồng Gai, Nam Định. Trong tình hình đó, chỉ cần một cuộc đột kích nhỏ của quân dân ta cũng có thể tiêu diệt hết quân địch, giải phóng Hà Nội. Nhưng triều đình Huế không cho quân tấn công vào Hà Nội, mà vẫn nuôi hi vọng thu hồi Hà Nội bằng con đường "thương thuyết hoà bình" như mười năm về trước.

Trong khi đó thái độ của Chính phủ Pháp lại hoàn toàn khác trước. Tin Rivie chết trận không làm cho thực dân Pháp chùn bước như khi Garnie chết năm 1873. Tin đó tới đúng lúc tình hình chính trị và ngoại giao của Pháp đều đã được ổn định, nên càng thúc giục mạnh thêm việc xâm lược. Ngày 15/5/1883, nghĩa là 4 ngày trước trận Cầu Giấy, chính phủ Pháp đã gọi sứ thần Pháp ở Bắc Kinh về tỏ rõ thái độ cương quyết của tư bản Pháp đối với triều Thanh trong vấn đề Bắc Kì. Ngày 26/5/1883, bọn thực dân chớp ngay tin thất trận Cầu Giấy lớn tiếng kêu gọi "Trả Thù", buộc dư luận trong và ngoài Nghị viện ủng hộ cuộc viễn chinh lớn. Ngân sách chiến phí đã được toàn thể Hạ nghị viện thông qua không một phiếu phản đối. Nghị viện cũng quyết định gửi thêm quân và chiến hạm sang Việt Nam.

Thiếu tướng Buê (Bouet) mới được cử làm Tổng chỉ huy quân đội Bắc Kì tới Hà Nội vào giữa tháng 6/1883. Trong khi chờ đợi viện binh từ Pháp sang, Buê vừa gấp rút lo củng cố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định thành những căn cứ quân sự vững chắc, vừa lo bắt nguỵ binh và đánh thuế để bù đắp vào những thiếu hụt lớn vừa qua về quân số và tài chính.

Từ cuối tháng 7, viên binh Pháp bắt đầu kéo sang. Cũng vào cuối tháng đó, bộ tư lệnh quân xâm lược Pháp họp hội nghị quân sự ở Hải Phòng bàn kế hoạch tác chiến xâm lược Việt Nam, chúng quyết định đánh thẳng lên Sơn Tây là trung tâm kháng chiến ngoài Bắc bấy giờ, và đánh vào Huế là nơi đầu não của triều Nguyễn. Việc vua Tự Đức mất ngày 17/7/ 1883 và tình hình lục đục của triều đình Huế sau đó càng thúc giục Pháp quyết định hành động.

PHÁP ĐÁNH CHIẾM THUẬN AN NĂM 1883
Khi thấy quân Pháp mở rộng xâm lăng Bắc Kì, quân Thanh cũng kéo sang rất đông. Pháp chủ trương nối lại thương thuyết với Trung Quốc để làm dịu tình hình căng thẳng giữa đôi bên. Trước những hoạt động ráo riết của địch, mặc dù không được lệnh của triều đình, quan quân ta ngoài Bắc vẫn thắt chặt vòng vây xung quanh Hà Nội. Trận địa của ta do đại quân của Hoàng Tá Viêm và đội Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đóng giữ trên ba phòng tuyến dày đặc bảo vệ đường lên Sơn Tây, tuyến tiền tiêu dựa sau lưng sông Tô Lịch và chạy dài từ Cầu Giấy tới Sông Hồng lên Chèm.

Ngày 15/8, để giành thế chủ động, Buê đem gần 2000 quân chia làm ba đạo, có nhiều đại bác và tàu chiến yểm hộ, đánh vào phòng tuyến bảo vệ con đường lên Sơn Tây của ta. Nhưng cả ba đạo quân của chúng đều bị quân ta chặn đánh kịch liệt suốt trong hai ngày 15 và 16 trên đường hành quân buộc chúng phải kéo nhau chạy về Hà Nội.

Đồng thời với việc mở cuộc tấn công lớn về phía Sơn Tây, sáng sớm ngày 15/8, Buê còn phái một cánh quân xuất phát từ Hà Nội kéo xuống đánh chiếm Hải Dương và Quảng Yên. Trong thời gian đó, hạm đội Bắc Kì có thêm nhiều tàu chiến từ Sài Gòn ra tăng viện, do đô đốc Courbet chỉ huy, đã kéo vào uy hiếp Thuận An, cổ họng của kinh thành Huế. Sáng ngày 18/8/1883, Courbet đưa tối hậu thư đòi triều đình phải giao tất cả các pháo đài trong vòng hai giờ. Đến 4 giờ chiều hôm đó, tàu chiến pháp bắt đầu nổ súng và công phá suốt mấy hôm liền các đồn trại của quân ta trên bờ. Chiều ngày 20/8/1883 quân Pháp bắt đầu đổ bộ, và đến chiều tối hôm đó, thì chiếm toàn bộ Thuận An. Các quan trấn thủ Thuận An như Lê Sỹ, Lê Chuẩn, Lâm Hoành, Nguyễn Trung đều hi sinh trong chiến đấu.

Lợi dụng sự lục đục trong nội bộ triều đình nhà Nguyễn sau khi Tự Đức băng hà, Courbet trở lại vịnh Đà Nẵng cùng với chiến hạm Bayard vào tối ngày 16 tháng 8 và đã lên kế hoạch tấn công vào pháo đài Trấn Hải cạnh cửa biển Thuận An pháo đài vào ngày 18 tháng 8. Ngày 17 tháng 8, quân Pháp bắt đầu tập trận. Quân Pháp dùng thuyền đi ngược sông Hương lúc 8 giờ sáng ngày 18 tháng 8. Bayard là soái hạm của Pháp trong trận này. Bayard tiến sâu vào trong đất liền để có thể nã pháo vào các pháo đài lớn ở phía nam và phía bắc từ khoảng cách 2000 mét. Châteaurenault cách đó một chút về phía đông, và tấn công các pháo đài phía Nam. Atalante neo ở phía tây Bayard, được giao nhiệm vụ tấn công các pháo đài lớn nằm ở phía Bắc. Chiến hạm Drac neo tại sườn phía tây hạm đội Pháp bắn đạn vào các pháo đài nhỏ ở cuối các vị trí địch quân. Lynx và Vipère đã neo ở giữa Atalante và Drac để bảo vệ cuộc đổ bộ.

Trong buổi sáng, người Pháp đã chiếm được pháo lũy ở phía Bắc. Tuy nhiên, pháo đài Nam vẫn còn trong tay Đại Nam. Trong buổi chiều, để chuẩn tấn công pháo đài Nam, chiến hạm Lynx và Vipère vượt qua đập sông cách táo bạo. Đại bác quân Đại Nam từ trong thành bắn ra nhưng không trúng phát nào, và lại bị hai tàu chiến bắn trở lại. Ngoài biển, Bayard và Châteaurenault được bổ sung thêm nhằm chiếm được pháo đài cách nhanh nhất. Người Pháp có vũ khí hiện đại hơn còn quân Đại Nam tuy bắn trả lại suốt ngày hôm đó, nhưng do vũ khí quá thua kém, trình độ quá lỗi thời nên đến cuối ngày các pháo lũy đều bị đạn pháo quân Pháp phá hủy, lực lượng phòng thủ bị tổn thất rất nghiêm trọng mà quân Pháp không bị thiệt hại gì, quan trấn thành là Lê Sĩ, Lê Chuẩn tử trận, Lâm Hoành, Trần Thúc Nhân nhảy xuống sông tự tử.

Tổn thất Đại Nam trong cuộc oanh tạc và đỗ bộ tiếp theo có lẽ lên tới 2500 lính bị giết hoặc bị thương. Thương vong Pháp, ngược lại chẳng bao nhiêu, khi chỉ có vài chục người bị thương. Vào ngày hôm sau, Courbet cùng quân sĩ ăn mừng thắng trận, đối với các sĩ quan và thủy thủ đoàn Lynx và Vipère, đều được khen thưởng đặc biệt.[67] Quân Pháp chiếm được đóng cửa Thuận An (Huế). Dưới sức ép quân sự của Pháp, ngày 25 tháng 8, nhà Nguyễn phải chấp thuận ký hòa ước với Pháp, theo đó chấp thuận sự bảo hộ của Pháp tại Bắc Kỳ.

Triều đình Huế nghe vọng tiếng đại bác trong mấy ngày liền đã lo ngại vô cùng, trước đó vua Tự Đức đã mất vì tuổi già (17/71883), đến nay lại tiếp tục được tin thất bại nên càng thêm hoảng hốt, vội cử Nguyễn Văn Tường xuống Thuận An gặp Courbet xin đình chiến. Cao uỷ Pháp Hacmang *Harmand) liền đi ngay lên Huế đặt điều kiện cho điều ước mới. Triều đình cử Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp đứng ra thương thuyết, nhưng thực ra là để nhận các điều khoản do Harmand đưa ra.

Với bản hiệp ước mới 25/8/1883, phong kiến nhà Nguyễn đã đi sâu hơn vào một bước trên con đường đầu hàng Pháp. Về căn bản, từ nay Việt Nam đã mất quyền tự chủ trên phạm vi toàn quốc, triều đình Huế đã chính thức thừa nhận sự bảo hộ của nước Pháp, mọi công việc chính trị, kinh tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm.

Điều 2: Tại Huế sẽ đặt chức Khâm sứ để thay mặt Chính phủ Pháp, viên này có quyền gặp nhà Vua bất kì lúc nào nếu xét ra cần thiết.

Các khoản 12, 13, 17, 18, 19: Tại Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác có đặt chức Công sứ, có quân đội bảo vệ và có quyền kiểm soát việc tuần phòng, quản lí việc thuế vụ, giám sát mọi sự thu chi, phụ trách việc thuế quan.

Các khoản 2 và 6: Khu vực do triều đình cai trị như cũ chỉ còn lại từ Khánh Hoà ra tới Đèo Ngang, tỉnh Bình Thuận sáp nhập vào Nam Kì, ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh sáp nhập vào Bắc Kì. Nhưng ngay trong khu vực này, các việc thương chính, công chính cũng đều do Pháp nắm.

Khoản 3: Quân Pháp đóng ngay tại Thuận An và Huế.

Khoản 1: Mọi việc giao thiệp của Việt Nam với nước ngoài, kể cả Trung Quốc cũng do Pháp nắm.

Về quân sự, ngoài việc phải nhận huấn luyện viên và sĩ quan chỉ huy Pháp, triều đình phải triệt hồi số quân lính đã đưa ra Bắc Kì trước đây. Pháp đóng những đồn binh dọc theo sông Hồng và những nơi xét thấy cần thiết, Pháp toàn quyền xử trí đội quân Cờ Đen.

Nhận xét