TÌNH HÌNH CÁC BÊN TRƯỚC KHI PHÁP XÂM LƯỢC BẮC KÌ LẦN THỨ NHẤT
Chiếm xong Nam Kì, thực dân Pháp càng có thêm điều kiện để ráo riết chuẩn bị tấn công chinh phục toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Chúng ra sức gấp rút củng cố bộ máy cai trị đàn áp từ trên xuống dưới, một bộ máy cai trị trực tiếp mang nặng tính chất độc tài quân sự nằm gọn trong tay bọn sĩ quan hiếu chiến và tàn bạo. Với bộ máy cai trị này, thực dân Pháp đã thẳng tay thực hiện mọi thủ đoạn giết người, bắt sưu, đánh thuế, bắt lính trong nhân dân. Chúng bắt đầu thi hành một số biện pháp kinh tế thực dân gấp rút (như ra sức vơ vét lúa gạo trong nhân dân để xuất khẩu kiếm lời, cướp đoạt ruộng đất các nơi để bán đấu giá hay cho thuê dài hạn, bắt đầu xây dựng thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn với bến tàu, ụ sửa chữa tàu, xưởng Ba Son...) Để phục vụ đắc lực các chính sách chính trị và kinh tế trên, thực dân Pháp còn mở trường dòng, trường thông ngôn, trường Nho Sĩ và trường Pháp - Việt đào tạo cấp tốc bọn tay sai các loại, ra báo chữ Quốc Ngữ và chữ Pháp tuyên truyền ráo riết cho việc đánh chiếm Bắc Kì sắp tới.
Đồng thời, vừa để hợp pháp hoá việc chiếm đóng ba tỉnh miền Tây, vừa để ngăn chặn mọi ý định thương thuyết của triều đình Huế, thực dân Pháp một mặt ra sức vận động chính giới ở Pháp thừa nhận việc lấn chiếm vừa qua, mặt khác chủ động yêu cầu triều đình Huế sửa đổi điều ước năm 1862.
Nhưng cho đến trước năm 1873, tư bản Pháp vẫn chưa dám chủ trương mở rộng chiến tranh ở Việt Nam, đem quân ra đánh chiếm Bắc Kì vì tình hình nước Pháp còn có nhiều điều đáng lo ngại. Bị đánh bại trong cuộc chiến tranh Pháp - Đức năm 1870, một phần lãnh thổ nước Pháp bị quân Đức chiếm đóng. Năm 1873, tuy quân Đức rút khỏi đất Pháp - chỉ giữ lại hai miền Andát và Loren, nhưng sự uy hiếp của Đức với Pháp vẫn rất mạnh, buộc giới chính trị Pháp phải đề phòng đường biên giới phía đông. Tình hình kinh tế và chính trị nước Pháp chưa ổn định cũng không cho phép giai cấp tư sản Pháp nghĩ tới chuyện đánh chiếm thuộc địa nơi xa, vừa tốn kém vừa nguy hiểm.
Trong khi đó thì bọn thực dân Pháp ở Nam Kì lại nôn nóng muốn hành động gấp. Chúng luôn dòm ngó Bắc Kì nhất là sau khi Nam Kì đã được củng cố có lợi cho chúng. Chúng biết chắc triều đình Huế suy yếu sẽ không có phản ứng gì đáng kể. Để dọn đường cho đội quân xâm lược sau này, chúng đã tung ra Bắc bọn gián điệp đội lốt thầy tu để do thám tình hình và tổ chức một số giáo dân lầm đường làm nội ứng.
Đồng thời, chúng còn bí mật xúi giục những tập đoàn phiến loạn mượn danh nghĩa phù Lê chống Nguyễn làm áp lực buộc phong kiến triều Nguyễn phải nhờ chúng mang quân ra giúp. Thương nhân Pháp lúc đó cũng ráo riết tìm cách hoạt động. Sau khi thấy đường vào miền Tây Nam Trung Quốc bằng sông Cửu Long không thể đi được vì lắm thác gềnh nguy hiểm, chúng đặc biệt chú ý đến đường sông Hồng. Tên lái buôn người Pháp Duypuy (Jean Dupuis) vẫn chở súng vào vùng Vân Nam, Quý Châu (Trung Quốc) bán cho bọn tướng tá triều Thanh đàn áp phong trào khởi nghĩa của nhân dân. Nếu đi theo sông Trường Giang (Dương Tử) thì sẽ xa xôi tốn kém, nên chúng thương thuyết với bọn tướng tá nhà Thanh cho được đi trên sông Hồng. Tổng đốc Lưỡng Quảng thay mặt nhà Thanh yêu cầu triều đình Huế cho Duypuy được ngược sông Hồng. Y còn được sự ủng hộ của quan quân nhà Thanh đóng trên vùng thượng du Bắc Kì. Mặt khác, y lại xin Chính phủ Pháp ủng hộ công việc kinh doanh. Bọn thự dân Pháp ở Nam Kì lúc đó cũng thấy đây là một thời cơ tốt để hành động, vừa để kịp thời ngăn chặn thế lực nước Anh phát triển ở miền Tây Nam Trung Quốc, vừa để củng cố tình hình Nam Kì, nghĩa là để buộc triều đình Huế phải chính thức thừa nhận việc Pháp chiếm đống ba tỉnh miền Tây Nam Kì, vừa gạt thế lực địch thủ cổ truyền của Pháp là Anh ra khỏi địa bàn Bắc Kì.
Tình hình nước Pháp trong hai năm 1870 - 1871 không cho phép giai cấp tư sản Pháp tăng cường hoạt động. Đối với các đề nghị của Duypuy, các nhà cầm quyền ở Pháp (cũng như ở Nam Kì) đều tỏ ra dè dặt. Tình hình buộc Duypuy phải tự mình hành động. Y đi Hương Cảng và Thượng Hải (10 / 1872) sắm pháo thuyền và súng ống đạn dược, một quân lính, rồi kéo tới Bắc Kì tháng 11 năm đó, Bọn thực dân hiếu chiến ở Nam Kì cũng đã lợi dụng việc triều đình Huế yêu cầu gửi quân ra Bắc để tiễu trừ giặc biển để phái ngay tàu chiến ra Bắc tiếp tay cho Duypuy. Được thể làm càn, Duypuy đã buộc Kinh lược sứ Lê Tuấn trong vòng hai tuần phải xin triều đình Huế cho phép hăn được mượn đường sông Hồng đi lên Vân Nam. Nhưng hạn hai tuần chưa hết và giấy phép cũng chưa có, Duypuy đã nổ súng thị uy, rồi tự tiện kéo đoàn tàu vào Cửa Cấm ngược sông Hồng lên tới Hà Nội ngày 22/12/1872.
Giữa lúc quan hệ đôi bên đang hết sức căng thẳng thì bọn thực dân hiếu chiến Pháp ở Sài Gòn phái Đại uý hải quân Gacnie (Francis Carnier) mang quân ra Bắc, bề ngoài với danh nghĩa giải quyết tại chỗ vụ Duypuy, nhưng bên trong chính là kiếm cớ can thiệp sâu vào vấn đề Bắc Kì.
PHÁP CHÍNH THỨC NỔ SÚNG XÂM LƯỢC MIỀN BẮC KÌ LẦN THỨ NHẤT
Khởi hành từ Sài Gòn ngày 11/10/1873, đội tàu chiến của Garnie ra tới Hà Nội ngày mồng 5/11/1873. Nhiệm vụ của bọn thực dân hiếu chiến Nam Kì giao cho Garnie khi kéo quân ra Bắc là được toàn quyền hành động và tuỳ theo diễn biến tình hình mà thiết lập chế độ bảo hộ hay chế độ thuộc địa.
Ngay khi mới đặt chân đến Hà Nội, Garnie đã lộ rõ bộ mặt khiêu khích. Hắn hội quân với Duypuy đòi vào đóng quân trong thành, mở sông Hồng cho việc chuyên chở hàng hoá và buôn bán, đòi tổ chức việc thu thuế, cho quân tự do đi canh gác các phố xá và bắt bớ, đánh đập, hãm hiếp nhân dân.
Nguyễn Tri Phương cùng các quan lại triều đình ở Hà Nội lúng túng, bị động trước sau chỉ ngồi chờ lệnh của triều đình Huế. Triều đình Huế khi nghe tin Garnie khiêu khích ở Hà Nội đã đối phó lại rất yếu ớt. Trần Đình Túc được cử ra Bắc đã cách chức một số quan lại ở Hà Nội, ra bố cáo cấm nhân dân buôn bán, giao tiệp với Pháp, vạch rõ trách nhiệm của Garnie ra Bắc chỉ là để xử lý và đuổi tên Duypuy, việc xong là phải rút đi. Nhân dân Hà Nội đã chấp hành nghiêm chỉnh lệnh hợp tác của triều đình. Chính thực dân Pháp đã phải thừa nhận rằng không một thương nhân hay giáo dân nào dám bén mảng tới chỗ chúng đóng. Đội quân chiếm đóng Hà Nội của Garnie lâm vào tình thế rất nguy khốn. Các giếng nước uống thường bị bỏ độc, ban đêm luôn luôn sợ bị quân ta tấn công tiêu diệt, kho thuốc súng của chúng ở bờ sông mấy lần bị đốt trong đêm.
Giữa lúc tình hình căng thẳng thì Gacnie nhận được viện binh từ Sài Gòn và Hương Cảnh đến. Lực lượng được tăng cường, ngày 16/11/1873, y tự tiện tuyên bố mở đường sông Hồng cho chuyên chở hàng hoá và buôn bán, thiết lập chế độ thuế quan mới. Sáng ngày 19 tháng đó, hắn đưa tối hậu thư buộc Nguyễn Tri Phương phải giải giáp quân đội, rút hết súng trên thành, khái phóng sông Hồng. Không đợi trả lời, sáng sớm ngày 20/11/1873, y ra lệnh nổ súng đánh thành Hà Nội.
Ngày 19 tháng 11 năm 1873, Garnier gởi tối hậu thư ra lệnh cho quan binh trong thành Hà Nội phải hạ vũ khí đầu hàng và nộp thành. Cùng ngày, Garnier và Dupuis lên kế hoạch đánh thành Hà Nội, theo đó thì từ 6 giờ sáng ngày 20 tháng 11, các pháo thuyền Scorpion và Espignole dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Balny d' Avricourt bắt đầu pháo kích vào hai cửa thành phía Bắc và phía Đông cùng các cơ sở chính quyền trong thành Hà Nội; đặc biệt tập trung pháo kích hương về doanh trại chỉ huy của khâm sai đại thần Nguyễn Tri Phương, dinh phủ của Tổng đốc Hà Ninh và cột cờ.[34] Tới 6 giờ 30, quân Pháp sẽ ngừng pháo kích. Garnier cùng phụ tá De Trentinian chỉ huy 25 thủy bộ binh với hai khẩu sơn pháo phối hợp với các thủy thủ của phó thuyền trưởng Esmez tấn công cửa thành số 2 phía Nam và sẽ bắt liên lạc với cánh quân của Bain cùng với 2 phụ tá Hautefeuille và Perrin sau khi cánh quân nầy tấn công phá cửa thành số 1 phía Đông. Cả hai toán quân nầy tổng cộng gồm 90 người. Dupuis bố trí quân và thủ hạ của mình sát gần cửa thành phía Đông trong giai đoạn bắn phá của 2 pháo thuyền. Ngay sau khi ngưng pháo kích, toán binh lính đánh thuê Trung Quốc và các thủ hạ của ông ta sẽ chiếm đóng lầu canh hình bán nguyệt nơi cổng thành phía Đông rồi đóng chốt ở phía Bắc chận giữ đường rút lui tháo chạy của quan binh triều đình.[35] Ngày 20 tháng 11 năm 1873, từ lúc 5 giờ sáng, lực lượng phối hợp do Francis Garnier và Jean Dupuis chỉ huy chuẩn bị lần cuối trước khi tấn công vào thành Hà Nội. Đúng 6 giờ sáng, hai pháo thuyền trên sông Hồng từ khoảng cách 1.200 mét bắt đầu bắn phá vào thành Hà Nộị, tới 6 giờ 30, cuộc pháo kích ngừng. Toán quân của Dupuis chiếm đóng cổng thành phía Bắc, trong khi đích thân Dupuis chỉ huy một toán quân chiếm đóng lầu canh hình bán nguyệt và mở cổng thành.[36] Đội quân đặc nhiệm của Garnier chia thành hai cánh: cánh quân thứ nhất do phó thuyền trưởng Bain de la Coquerie chỉ huy 30 binh sĩ kèm theo một khẩu sơn pháo lấy từ tàu chiến Decrès kéo tới dàn trận trước cổng thành phía Tây-Nam để nghi binh, giả tấn công vào mặt nầy nhằm đánh lạc hướng quan binh trong thành. Cánh quân thứ hai gồm có 27 thủy bộ binh do chuẩn úy Trentinian chỉ huy và nột đội thủy quân biệt phái 29 người do phó thuyền trưởng Esmez chỉ huy, cùng với 3 khẩu trọng pháo và 19 binh sĩ trừ bị của tàu Decrès, có nhiệm vụ tấn cổng vào thành ở cửa Đông-Nam. Trại đóng quân nơi Trường Thi do 10 binh sĩ canh giữ dưới quyền chỉ huy của kỹ sư Bouiller.
Garnier dẫn đầu toán quân thứ hai tấn công mặt Đông-Nam. Tháp canh mặt nầy bị chiếm ngay sau khi cổng thành bị phá vỡ, toán quân của Garnier tràn vào thành mà chỉ gặp những sức kháng cự yếu ớt không gây thiệt hại nào đáng kể. Đích thân khâm sai Nguyễn Tri Phương đứng trên tháp canh để đốc thúc binh sĩ chống trả dù đã bị bắn trọng thương ở bụng nhưng chỉ sau một giờ giao chiến, quan binh triều đình tan rã, thành Hà Nội bị quân Pháp chiếm.
Đến khi quân Pháp bắt đầu cuộc tấn công, bộ binh của chúng xông lên dưới sự yểm hộ của đại bác từ tàu chiến đậu ngoài sông bắn lên, một cánh quân của chúng đã bị quân triều đình đánh chặn ác liệt tại cửa Ô Quan Chưởng, đội quân của ta gồm có 100 người do một viên Chưởng cơ chỉ huy đã chiến đấu rất anh dũng và hi sinh đến người cuối cùng.
Nguyễn Tri Phương đã lên cửa thành phía nam trực tiếp chỉ huy cuộc chiến đấu. Ông bị trúng đạn ở bụng, bọn Pháp cố tình cứu chữa định để mua chuộc về sau, nhưng ông đã xé băng, rồi nhịn ăn mà chết. Con trai ông là Nguyễn Lâm cũng bị trúng đạn chết. Hiệp quản Trần Văn Cát và suất độ Ngô Triều đã hăng hái xông lên mặt thành chiến đấu và đều hi sinh tại trận. Một số quan lại khác bị Pháp bắt, rồi đưa xuống tàu giải vào Sài Gòn. Còn lại phần lớn đều tìm đường chạy lên Sơn Tây liên lạc với cánh quân triều đình do Hoàng Tá Viêm chỉ huy.
Sau khi chiếm thành, Garnie đóng luôn quân trong thành, cho bịt kín các cửa thành, chỉ để lại cửa Đông, để đề phòng quân ta tấn công. Mặt khác, để ổn định tình hình, y vừa dán bố cáo vu cho quan quân ta khiêu khích buộc phải đánh chiếm thành vừa đẩy mạnh việc tuyển mộ nguỵ quân và ra sức đánh thuế nặng để có tiền chuẩn bị mở rộng phạm vi chiếm đóng.
PHÁP ĐÁNH CHIẾM HẢI DƯƠNG
Để duy trì đường thông thương ra biển và kiểm soát đường cái quan Hà Nội-Huế, Garnier lại cử thuyền trưởng Adrien-Paul Balny d'Avricourt đi Hải Dương và Ninh Bình. Tổng đốc Hải Dương từ chối không chịu xuống chiến hạm Espignole để gặp Balny. Quân Pháp đổ bộ lên bờ, quan binh trong thành kháng cự mạnh nhưng không gây được thiệt hại nào cho đối phương. Quân Pháp tiếp tục công thành, cửa thành bị vỡ, quân trong thành rút chạy, thành Hải Dương bị mất vào tay quân Pháp chỉ trong vòng hơn một tiếng đồng hồ giao tranh giữa hai bên.
PHÁP ĐÁNH CHIẾM NINH BÌNH
Đinh ninh toán binh sĩ của Balny vẫn còn ở Phủ Lý, Garnier sai chuẩn úy Hautefeuille với một thuyền chạy máy hơi nước nhỏ với 8 thủ thủ và 2 lính dân vệ người An Nam tăng cường để Balny chuẩn bị tiến chiếm thành Hải Dương.
Khi đến Phủ Lý thì Hautefeuille hay tin thành Hải Dương đã bị toán quân của Balny chiếm, nên 5 tháng 12 Hautefeuille theo dòng sông Đáy chạy tàu ra Kẻ Sở để phá bỏ các chướng ngại vật, cũng như đưa toán lính đi theo của mình lên bờ sông để giải tán rất nhiều dân phu do quan lại địa phương bắt đi đắp lũy, làm bè tre hỏa công, đóng cọc nhằm ngăn chận quân Pháp vượt qua sông. Một phó lãnh binh điều khiển nhóm dân phu lao dịch bị Hautefeuille bắt giữ nhưng rồi được tha ngay sau đó. Sáng sớm ngày 5 tháng 12 năm 1873 (16 tháng 10 âm lịch năm Quý Dậu), tàu của Hautefeuille đến trước thành Ninh Bình, bắn hai phát trọng pháo vào thành rồi chờ đợi trời sáng và phản ứng của quân trú thành.
Quân trú phòng xuất hiện rất đông trên bờ thành. Dân quân tự vệ chuẩn bị chèo ghe ra bao vây tàu máy của Hautefeuille nhưng bị giải tán ngaỵ. Hautefeuille dẫn quân nhảy lên bờ tiến đến cổng thành. Các ụ công sự trước cổng thành đã bị bỏ trống không có người chống giữ. Dân quân tự vệ ào ra bao vây toán quân của Hautefeuille nhưng e sợ không dám tấn công. Quân Pháp bắn đại bác từ tàu hơi nước lên bờ giải tán nhóm dân quân. Hautefeuille vượt nhanh qua cầu trước cổng thành. Tuần phủ Nguyễn Vũ đang đứng dưới lọng che trong nhà tiếp khách bên ngoài vòng thành để đón Hautefeuille nhưng bị Hautefeuille xông tới bắt làm con tin để quân Pháp vào thành một cách an toàn và bắt trói tất cả các quan chức trong thành, thành Ninh Bình với 1.700 quân thất thủ.
Ngày 09 tháng 12 năm 1873, Francis Garnier rời Hà Nội đi tàu Scorpion với 40 quân binh và thủy thủ đoàn, kéo theo một thuyền buồm chuyên chở đạn dược tới Ninh Bình vào buổi chiều, vào thành Ninh Bình khen ngợi Hautefeuille, sắp xếp để lại cho Hautefeuille 10 bộ binh thay cho 7 thủy thủ cũ để giữ thành Ninh Bình.
PHÁP ĐÁNH CHIẾM NAM ĐỊNH
Ngày hôm sau, 10 tháng 12 năm 1873, Francis Garnier đem quân thẳng tiến xuống Nam Định. Vào lúc 9 giờ sáng, tàu chiến Scorpion tới một khuỷu sông gần thành Nam Định thì rơi vào ổ phục kích của quân Nguyễn nhưng không bị thiệt hại nào đáng kể. Đồng thời đạn đại pháo từ trong thành bắn ra nhưng hầu hết đều không bắn trúng được tàu chiến Scorpion. Nhiều thủy thủ leo lên cột buồm tàu bắn trả khiến cho tiếng súng trong thành và từ các ổ phục kích phải chấm dứt. Toán của Bouxin gồm có 15 binh sĩ và một khẩu trọng pháo đổ bộ lên bờ để dụ quân trú phòng kéo tới phòng thủ cổng thành phía nam, nhưng quân binh trên thành chống trả mạnh khiến cho toán quân Bouxin không thể tiến lên. Trước tình hình đó Garnier đích thân dẫn đầu một toán 15 binh sĩ đổ bộ lên bờ trước cửa thành phía Đông, trong khi một toán khác do Bouillet chỉ huy đổ bộ vào phố thị buôn bán của tỉnh Nam Định và ngăn ngừa quân An Nam tấn công đường rút lui toán quân của Bouxin.
Như vậy là chỉ trong vòng không đầy một tháng, do sức kháng chiến yếu ớt của quan quân triều đình, nhiều tỉnh thành lớn nhỏ của miền đồng bằng Bắc Kì đã bị giặc chiếm đóng.
TRẬN CẦU GIẤY NĂM 1873
Do tình hình thúc bách, triều Nguyễn cũng điều quân, cử quan ra Bắc tiến hành một số công tác phòng thủ các nơi. Nhưng xu hướng chủ yếu vẫn là điều đình thương thuyết, hết viết thư hay cử người vào Sài Gòn yêu cầu Đô đốc Duypre gọi Garnie về, lại đến phái người ra Hà Nội thương thuyết tại chỗ với Pháp để yêu cầu chúng trả thành trì và kho tàng. Kết quả là quan quân còn đang trên đường ra Bắc thì Garnie đã tranh thủ thời cơ đưa quân đánh chiếm nhiều nơi khác. Lần lượt Hưng Yên bị chiếm ngày 23/11, Phú Lí ngày 26/11, Hải Hương 3/12, Ninh Bình ngày 5/12, Nam Định ngày 12/12.
Ngay sau khi thành Hà Nội thất thủ, triều đình Huế phái Trần Đình Túc, Trương Gia Hội cùng hai giáo sĩ Gia Tô là Sohier và Danzelger ra Hà Nội để điều đình với Garnier nhưng Garnier đã cho quân binh đánh chiếm thêm nhiều nơi khác ở Bắc Kỳ. Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định nối nhau thất thủ. Tự Đức liền khiến Tam Tuyên tổng thống Hoàng Tá Viêm sung tiết chế Bắc Kỳ quân vụ và tham tán Tôn Thất Thuyết đem theo 1.000 quân đến đóng ở phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh lo việc phòng ngự. Tuy nhiên, quân tăng phái triều đình ra đến Thanh Hóa thì phải ngưng lại vì thành Ninh Bình đã bị quân Pháp đánh chiếm.
Thừa lúc Gacnie xuống đánh Nam Định, việc canh phòng Hà Nội sơ hở, cánh quân triều đình của Hoàng Tá Viêm đóng ở Sơn Tây kéo về phối hợp với cánh quân triều đình của Trương Quang Đản đóng ở Bắc Ninh để tấn công Hà Nội. Đi theo cánh quân của Hoàng Tá Viêm lúc đó còn có đội quân cờ đen thiện chiến của Lưu Vĩnh Phúc đã từng lập công nhiều trong việc giúp triều đình đánh dẹp thổ phỉ trên vùng Lào Cai, Hà Giang.
Trong khi Garnier đánh chiếm thành Nam Định thì ở Sơn Tây, Quân cờ đen do Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy hoạt động mạnh và đánh chiếm lại đồn phòng thủ của quân Pháp ở Phủ Hoài và nhiều tiền đồn ở sát Hà Nội chỉ vài cây số. Garnier phải cử tàu Scorpion chở 15 lính tăng viện cho Bain de la Coquerie và ngay sau đó tàu này phải ra cửa Cấm chờ tàu Decrès chở quân tăng viện từ Sài Gòn ra.
Vòng vây của quân ta ngày càng khép chặt xung quanh Hà Nội. Nghe tin đó, Garnie vội vã kéo quân từ Nam Định về (18/12/1873). Chính lúc đó, phái đoàn của triều đình Huế ra tới Hà Nội để thương thuyết (19/12/1873). Lợi dụng cơ hội, Garnie một mặt cho dán bố cáo tuyên bố đình chỉ xung đột để tiện việc thương thuyết - mục đích của chúng là làm ta mất cảnh giác khi đang khép chạt vòng vây xung quanh Hà Nội, mặt khác làm áp lực đối với phái đoàn của triều đình Huế để tiến hành cuộc thương thuyết trên thế mạnh.
Ngày 18 tháng 12 năm 1873, sau khi cử y sỹ Harmand giữ chức quản trị quân sự cùng với 25 lính thủy giữ thành Nam Định, Garnier quay trở về Hà Nội để dự trù một cuộc hành quân phản công ở Phủ Hoài vào ngày 21 tháng 12 năm 1873. Tuy nhiên, vào buổi chiều ngày 19 tháng 12 năm 1873, Garnier phải đón tiếp đoàn thương nghị của triều đình Huế do Trần Đình Túc, Trương Gia Hội cầm đầu cùng với 2 giáo sĩ Gia Tô, Garnier liền niêm yết cáo thị tạm ngừng chiến để thương nghị tìm giải pháp hòa bình.
Tới ngày 21 tháng 12, Garnier đang ngồi nghị bàn với phái đoàn của triều đình Huế thì được khẩn báo là quân binh triều đình cùng với quân Cờ đen ở Sơn Tây phối hợp đang tiến đến cổng thành Hà Nội. Garnier dẫn một toán quân ra chặn đánh, nhưng bị Quân cờ đen phục kích và giết chết tại Cầu Giấy.
Đại tá Thomazi, nhà sử học Đông Dương thuộc Pháp, ghi lại những giờ phút cuối cùng của Garnier như sau:
Giữa ngày 21 tháng 12 năm ấy, khi đang bàn luận với các sứ bộ An Nam thì viên thông dịch vào báo rằng quân Cờ Đen (tức quân Lưu Vĩnh Phúc) đang đánh thành ở cửa Tây. Garnier kéo ra trận tiền nơi lính Tây đang nã súng, buộc quân Cờ Đen phải rút lui sau lùm tre. Liền đó một cỗ pháo nòng 40-mm được kéo ra. Garnier gọi một toán lính hơn một chục người rồi giao cho ba người kéo cỗ súng ra ngoài cổng thành đuổi theo quân địch. Vì súng thì nặng nên không đi nhanh được, Garnier sau ra lệnh bỏ lại với vài tên lính. Chín tên lính còn lại thì Garnier chia thành ba nhóm. Hai nhóm truy kích vòng ra hai phía tả hữu còn Garnier thì dẫn nhóm trực chỉ lối giữa. Đuổi khoảng 1 km rưỡi thì Garnier trượt chân ngã xuống ở chân dốc đê. Một toán quân Cờ Đen ẩn đằng sau đê ùa ra, súng bắn tràn. Lúc đó Garnier đã bỏ xa hai người lính hộ vệ 100 mét. Một người trúng đạn chết; người kia cũng bị thương. Garnier gào to: "Hỡi những binh sĩ dũng cảm, hãy lại đây với tôi, tôi sẽ đánh cho chúng một trận chí tử!" Sau đó Garnier cố tự vệ dùng súng côn bắn sáu phát. Quân địch ùa đến bổ vây dùng giáo và kiếm đâm chém, chặt đầu rồi bỏ chạy, để lại một thi thể đầy thương tích rùng rợn. Hai toán lính truy kích nghe tiếng súng liền sấn vào nhưng chỉ kịp cướp lấy cái thây đầy máu của Garnier đem lại về thành Hà Nội.
Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất (21/12/1873) làm cho quân dân ta trong cả nước phấn khởi bao nhiêu thì lại càng làm quân Pháp ở Hà Nội lúc đó lo sợ bấy nhiêu. Chúng sẵn sàng bỏ thành rút chạy xuống trốn tránh dưới tàu. Lúc đó, Lưu Vĩnh Phúc đã chuẩn bị sẵn hàng trăm chiếc thang dài để vượt tường thành vào tiêu diệt quân xâm lược tận sào huyệt của chúng ngay trong lòng Hà Nội. Lúc này, quân dân ta ở các nơi cũng tự động phối hợp đánh mạnh, quân Pháp chiếm đóng thành Nam Định đã toan bảo thành để chạy về Hà Nội, may có tàu chiến đến tăng viện mới dám nấn lá ở lại.
Thực dân Pháp ở Nam Kì rất hốt hoảng trước tình hình này. Thêm vào đó, nước Pháp đang có nhiều khó khăn nội bộ, chúng còn lo ngại Trung Quốc và Anh can thiệp vào Bắc Kì để ngăn chặn Pháp phát triển thế lực. Nếu lúc này triều đình Huế quyết tâm đẩy mạnh kháng chiến thì số quân địch ở Hà Nội và phân tán ở các tỉnh nhất định sẽ bị tiêu diệt. Nhưng để dọn đường cho cuộc thương thuyết mới, Tự Đức đã ra lệnh cho Hoàng Tá Viêm triệt binh lên Sơn Tây, đồng thời phải điều động đội quân của Lưu Vĩnh Phúc lên đóng trên mạn ngược chờ lệnh mới.
Trước đó, nghe tin tình hình Bắc Kì ngày càng khó khăn, triều đình đã cử Nguyễn Văn Tường đi cùng phái viên Pháp là Philastre ra Bắc giải quyết tại chỗ mọi việc cần thiết. Tàu vừa ra đến Cửa Cấm (Hải Phòng) này 24/12 thì Philát được tin Garnie đã chết trận. Tình hình đó buộc Philát phải tranh thủ nghị hoà sớm để tránh cho các đội quân Pháp đóng ở các nơi có nguy cơ bị tiêu diệt. Tới Hà Nội ngày 3/1/1874, mặc dù bọn Duypuy và Puginier tìm mọi cách phá hoại cuộc thương thuyết, Philát vẫn cương quyết hạ lệnh phải trao trả gấp các thành cho quan lại triều đình, vì thấy không thể nào làm khác được.
Lần lượt chỉ trong vòng nửa tháng, các thành Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nội đều được trả lại triều đình Huế. Đội quân chiếm đóng của Pháp rút hết khỏi Hà Nội, chỉ để lại một trung đội để hộ vệ viên lãnh sự Pháp. Tên lái buôn Duypuy bị trục xuất. Xong mọi việc, đến ngày mồng 4 tháng 3, Philát xuống tàu về Sài Gòn chuẩn bị hoà ước mới.
HOÀ ƯỚC GIÁP TUẤT NĂM 1874
Lần này cũng như lần kí kết hoà ước năm 1862 mười hai năm về trước, thực dân Pháp và triều đình Huế đều gặp nhau ở chỗ mong sớm kí kết để giải quyết các khó khăn chồng chất ngày một lớn của mình. Chỉ không đầy hai tuần sau, hiệp ước mới đã được kí kết tại Sài Gòn (15/3/1874), gồm có 22 điều khoản. Với hoà ước này, phong kiến triều Nguyễn chính thức dâng toàn bộ đất đai Nam Kì cho thực dân Pháp, công nhận quyền đi lại buôn bán, kiếm soát và điều tra tình hình của chúng ở Việt Nam.
Sau đây là một vài điều khoản chính và nặng nề nhất nói lên sự phụ thuộc ngày càng chặt chẽ của triều đình Huế vào bọn thực dân Pháp.
Điều 5: Triều đình Huế thừa nhận chủ quyền của Pháp trên tất cả 6 tỉnh Nam Kì.
Điều 11: Triều đình cam kết mở cửa Thị Nại (Quy Nhơn), cửa Ninh Hải (Hải Phòng), tỉnh lị Hà Nội, sông Hồng, và tuỳ theo tình hình về sau sẽ mở thêm nhiều nơi khác nữa cho người ngoại quốc vào buôn bán.
Điều 12: Người Pháp được tự do buôn bán và kinh doanh công nghiệp ở các tỉnh nói trên, triều đình phải cung cấp đất cho họ xây kho, làm nhà và để họ tự do thuê mướn người Việt làm việc.
Điều 15: Người Pháp hay người ngoại quốc nào muốn đi vào nội địa Việt Nam phải có giấy thông hành do Pháp cấp và không có quyền buôn bán, nếu trái với điều khoản này thì hàng hoá bị tịch thu.
Căn cứ vào nội dung Hiệp ước năm 1874, rõ ràng nước Việt Nam trong thực tế đã trở thành đất bảo hộ của Pháp, tuy rằng trong hiệp ước không ghi chữ đó. Kí được hiệp ước này trong những điều kiện khó khăn bấy giờ của Pháp (1873 - 1874) là một thắng lợi lớn của chúng. Với hàng ước 1874, tuy Pháp phải trả lại Hà Nội, nhưng chúng đã đặt được cơ sở chính trị, kinh tế, quân sự ở khắp các nơi quan trọng ở Bắc Kì. Ở Hà Nội, có "Nhượng địa", đặt lãnh sự với 100 quân thường trú. Hoà ước năm 1874 báo trước thực dân Pháp nhất định sẽ quay trở lại chiếm hẳn Hà Nội khi thời cơ tới. Hơn nữa, lợi dụng thái độ đầu hàng của giai cấp phong kiến, thực dân Pháp còn ép triều đình Huế kí thêm một bản thương ước gồm 29 điều khoản vào ngày 31/8/1874, xác lập đặc quyền kinh tế của chúng trên khắp nước Việt Nam. Việc thếu quan ở các cảng từ nay do Pháp nắm, mọi sự xuất nhập đều do Pháp kiểm soát và có toàn quyền cho hay không cho phép tàu của các nước ra vào cảng. Tàu chiến Pháp có quyền tự do ra vào và quân Pháp có quyền đóng ở các cửa hàng.

Nhận xét
Đăng nhận xét