Khi thấy quân Pháp mở rộng xâm lăng Bắc Kì, quân Thanh cũng kéo sang rất đông. Pháp chủ trương nối lại thương thuyết với Trung Quốc để làm dịu tình hình căng thẳng giữa đôi bên. Trước những hoạt động ráo riết của địch, mặc dù không được lệnh của triều đình, quan quân ta ngoài Bắc vẫn thắt chặt vòng vây xung quanh Hà Nội. Trận địa của ta do đại quân của Hoàng Tá Viêm và đội Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đóng giữ trên ba phòng tuyến dày đặc bảo vệ đường lên Sơn Tây, tuyến tiền tiêu dựa sau lưng sông Tô Lịch và chạy dài từ Cầu Giấy tới Sông Hồng lên Chèm.
Ngày 15/8, để giành thế chủ động, Buê đem gần 2000 quân chia làm ba đạo, có nhiều đại bác và tàu chiến yểm hộ, đánh vào phòng tuyến bảo vệ con đường lên Sơn Tây của ta. Nhưng cả ba đạo quân của chúng đều bị quân ta chặn đánh kịch liệt suốt trong hai ngày 15 và 16 trên đường hành quân buộc chúng phải kéo nhau chạy về Hà Nội.
Đồng thời với việc mở cuộc tấn công lớn về phía Sơn Tây, sáng sớm ngày 15/8, Buê còn phái một cánh quân xuất phát từ Hà Nội kéo xuống đánh chiếm Hải Dương và Quảng Yên. Trong thời gian đó, hạm đội Bắc Kì có thêm nhiều tàu chiến từ Sài Gòn ra tăng viện, do đô đốc Courbet chỉ huy, đã kéo vào uy hiếp Thuận An, cổ họng của kinh thành Huế. Sáng ngày 18/8/1883, Courbet đưa tối hậu thư đòi triều đình phải giao tất cả các pháo đài trong vòng hai giờ. Đến 4 giờ chiều hôm đó, tàu chiến pháp bắt đầu nổ súng và công phá suốt mấy hôm liền các đồn trại của quân ta trên bờ. Chiều ngày 20/8/1883 quân Pháp bắt đầu đổ bộ, và đến chiều tối hôm đó, thì chiếm toàn bộ Thuận An. Các quan trấn thủ Thuận An như Lê Sỹ, Lê Chuẩn, Lâm Hoành, Nguyễn Trung đều hi sinh trong chiến đấu.
Lợi dụng sự lục đục trong nội bộ triều đình nhà Nguyễn sau khi Tự Đức băng hà, Courbet trở lại vịnh Đà Nẵng cùng với chiến hạm Bayard vào tối ngày 16 tháng 8 và đã lên kế hoạch tấn công vào pháo đài Trấn Hải cạnh cửa biển Thuận An pháo đài vào ngày 18 tháng 8. Ngày 17 tháng 8, quân Pháp bắt đầu tập trận. Quân Pháp dùng thuyền đi ngược sông Hương lúc 8 giờ sáng ngày 18 tháng 8. Bayard là soái hạm của Pháp trong trận này. Bayard tiến sâu vào trong đất liền để có thể nã pháo vào các pháo đài lớn ở phía nam và phía bắc từ khoảng cách 2000 mét. Châteaurenault cách đó một chút về phía đông, và tấn công các pháo đài phía Nam. Atalante neo ở phía tây Bayard, được giao nhiệm vụ tấn công các pháo đài lớn nằm ở phía Bắc. Chiến hạm Drac neo tại sườn phía tây hạm đội Pháp bắn đạn vào các pháo đài nhỏ ở cuối các vị trí địch quân. Lynx và Vipère đã neo ở giữa Atalante và Drac để bảo vệ cuộc đổ bộ.
Trong buổi sáng, người Pháp đã chiếm được pháo lũy ở phía Bắc. Tuy nhiên, pháo đài Nam vẫn còn trong tay Đại Nam. Trong buổi chiều, để chuẩn tấn công pháo đài Nam, chiến hạm Lynx và Vipère vượt qua đập sông cách táo bạo. Đại bác quân Đại Nam từ trong thành bắn ra nhưng không trúng phát nào, và lại bị hai tàu chiến bắn trở lại. Ngoài biển, Bayard và Châteaurenault được bổ sung thêm nhằm chiếm được pháo đài cách nhanh nhất. Người Pháp có vũ khí hiện đại hơn còn quân Đại Nam tuy bắn trả lại suốt ngày hôm đó, nhưng do vũ khí quá thua kém, trình độ quá lỗi thời nên đến cuối ngày các pháo lũy đều bị đạn pháo quân Pháp phá hủy, lực lượng phòng thủ bị tổn thất rất nghiêm trọng mà quân Pháp không bị thiệt hại gì, quan trấn thành là Lê Sĩ, Lê Chuẩn tử trận, Lâm Hoành, Trần Thúc Nhân nhảy xuống sông tự tử.
Tổn thất Đại Nam trong cuộc oanh tạc và đỗ bộ tiếp theo có lẽ lên tới 2500 lính bị giết hoặc bị thương. Thương vong Pháp, ngược lại chẳng bao nhiêu, khi chỉ có vài chục người bị thương. Vào ngày hôm sau, Courbet cùng quân sĩ ăn mừng thắng trận, đối với các sĩ quan và thủy thủ đoàn Lynx và Vipère, đều được khen thưởng đặc biệt.[67] Quân Pháp chiếm được đóng cửa Thuận An (Huế). Dưới sức ép quân sự của Pháp, ngày 25 tháng 8, nhà Nguyễn phải chấp thuận ký hòa ước với Pháp, theo đó chấp thuận sự bảo hộ của Pháp tại Bắc Kỳ.
Triều đình Huế nghe vọng tiếng đại bác trong mấy ngày liền đã lo ngại vô cùng, trước đó vua Tự Đức đã mất vì tuổi già (17/71883), đến nay lại tiếp tục được tin thất bại nên càng thêm hoảng hốt, vội cử Nguyễn Văn Tường xuống Thuận An gặp Courbet xin đình chiến. Cao uỷ Pháp Hacmang *Harmand) liền đi ngay lên Huế đặt điều kiện cho điều ước mới. Triều đình cử Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp đứng ra thương thuyết, nhưng thực ra là để nhận các điều khoản do Harmand đưa ra.
Với bản hiệp ước mới 25/8/1883, phong kiến nhà Nguyễn đã đi sâu hơn vào một bước trên con đường đầu hàng Pháp. Về căn bản, từ nay Việt Nam đã mất quyền tự chủ trên phạm vi toàn quốc, triều đình Huế đã chính thức thừa nhận sự bảo hộ của nước Pháp, mọi công việc chính trị, kinh tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm.
Điều 2: Tại Huế sẽ đặt chức Khâm sứ để thay mặt Chính phủ Pháp, viên này có quyền gặp nhà Vua bất kì lúc nào nếu xét ra cần thiết.
Các khoản 12, 13, 17, 18, 19: Tại Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác có đặt chức Công sứ, có quân đội bảo vệ và có quyền kiểm soát việc tuần phòng, quản lí việc thuế vụ, giám sát mọi sự thu chi, phụ trách việc thuế quan.
Các khoản 2 và 6: Khu vực do triều đình cai trị như cũ chỉ còn lại từ Khánh Hoà ra tới Đèo Ngang, tỉnh Bình Thuận sáp nhập vào Nam Kì, ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh sáp nhập vào Bắc Kì. Nhưng ngay trong khu vực này, các việc thương chính, công chính cũng đều do Pháp nắm.
Khoản 3: Quân Pháp đóng ngay tại Thuận An và Huế.
Khoản 1: Mọi việc giao thiệp của Việt Nam với nước ngoài, kể cả Trung Quốc cũng do Pháp nắm.
Về quân sự, ngoài việc phải nhận huấn luyện viên và sĩ quan chỉ huy Pháp, triều đình phải triệt hồi số quân lính đã đưa ra Bắc Kì trước đây. Pháp đóng những đồn binh dọc theo sông Hồng và những nơi xét thấy cần thiết, Pháp toàn quyền xử trí đội quân Cờ Đen.

Nhận xét
Đăng nhận xét