THỜI ĐẠI DỰNG NƯỚC


Sau hàng chục vạn năm gian khổ lao động và sáng tạo, từ những công cụ bằng đá thô sơ tiến đến sự phát minh ra kĩ thuật luyện kim và nghề trồng lúa nước dùng cày có sức kéo là trâu bò, đời sống vật chất và tinh thần của người nguyên thuỷ Việt Nam ngày càng được nâng cao, từng bước làm thay đổi bộ mặt xã hội, đưa đến hình thành một lãnh thổ chung, một nền văn hoá, văn minh chung và một tổ chức chính trị, xã hội chung, đó là quốc gia và nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, đánh dấu một bước chuyển cơ bản trong lịch sử xã hội Việt Nam, mở ra một thời đại mới - thời đại dựng nước.

Từ sau Cách mạng tháng tám 1945, nhất là từ năm 1954, sau khi thực dân Pháp bại trận ở Điện Biên Phủ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nghành sử học và khảo cổ học Việt Nam chính thức ra đời và ngày càng phát triển, việc nghiên cứu một cách toàn diện về thời đại Hùng Vương - An Dương Vương mới thực sự được chú trọng và ngày càng được đẩy mạnh, do đó đã được nhiều thành tựu to lớn. Các nguồn tài liệu được phát hiện và thu thập ngày càng phong phú. Các công trình nghiên cứu có giá trị lần lượt được công bố như: Văn hoá Đông Sơn hay văn hoá Lạc Việt, Văn hoá đồ đồng và trống đồng Lạc Việt của Đào Duy Anh, Lịch sử chế độ Cộng sản nguyên thuỷ ở VIệt Nam của Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn, Xã hội nước Văn Lang và Âu Lạc của Văn Tân, Hùng Vương dựng nước. Trên cơ sở nhiều di tích văn hoá Đông Sơn được khai quật ở nhiều địa phương như di tích Núi Nấp, Quỳ Chữ, Đồng Ngầm, Đồng Vừng, Bái Tê, Cồn Cầu (Thanh Hoá), Làng Vạc (Nghệ An), Làng Cả (Phú Thọ), Đường Cổ, Phú Lương, Vinh Quang, Phương Tú (Hà Tây), Bãi Mèn, Chùa Thông, Đỉnh Chàng (Hà Nội), Đồng Mõm (Nghệ An)... mà ngày càng có nhiều sách, báo, tạp chí, kỉ yếu khảo cổ học hàng năm được công bố. Thời đại Hùng Vương được nghiên cứu sâu sắc, toàn diện. Nhiều nội dung quan trọng thuộc thời đại này được làm rõ hơn: niên đại, nguồn gốc và đặc trưng của nền văn hoá Đông Sơn, hình thái kinh tế - xã hội, thiết chế chính trị đương thời...

Trên cơ sở những thành tựu mới đó, chúng ta đi vào tìm hiểu nội dung chủ yếu của thời đại này mà chúng tội gọi chung là thời Hùng Vương hay thời Văn Lang.

NIÊN ĐẠI VÀ ĐỊA BÀN CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ THỜI HÙNG VƯƠNG
1: Niên đại
Dựa vào các nguồn tư liệu mới phát hiện và kết quả nghiên cứu, nhiều nhà khảo cổ học và sử học cho rằng thời kì dựng nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam - thời Hùng Vương đã trải qua 4 giai đoán phát triển nối tiếp nhau liên tục và ngày càng cao trên cơ sở kế thừa thành quả giai đoạn trước. 4 giai đoạn đó phản ánh quá trình hình thành và phát triển của nhà nước và quốc gia Văn Lang - Âu Lạc.

- Giai đoạn Phùng Nguyên tồn tại vào khoảng nửa đầu thiên niên kỉ II tr. CN, thuộc sơ kì thời đại đồng thau. Giai đoạn này chưa có công cụ bằng đồng.
- Gai đoạn Đồng Dậu ở vào khoảng nửa sau thiên niên kỉ II tr. CN thuộc trung kì thời đại đồng thau. Đây là giai đoạn phát triển kế tiếp cao hơn giai đoạn Phùng Nguyên. Người thời Đồng Dậu vẫn dùng đồ đá trong sản xuất và đời sống là chủ yếu, nhưng hiện vạt bằng đồng thau đã chiếm khoảng trên dưới 20% số công cụ và vũ khí. Kĩ thuật làm đồ gốm và luyện kim phát triển hơn.

- Giai đoạn Gò Mun: Tồn tại vào nửa đầu thiên niên kỉ I tr. CN. Đặc điểm của giai đoạn nay là đồ đá giảm sút rõ rệt, chỉ chiếm 48% trong tổng số hiện vật, đồ đồng thau chiếm tỉ lệ cao, trên 50% tổng số công cụ và vũ khí. Đây là giai đoạn hậu kì thời đại đồng thau.

- Giai đoạn Đông Sơn: Tồn tại trong khoảng thời gian từ thế kỉ VII tr.CN đến thế kỉ I sau CN. Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ sự phát triển rực rỡ của đồ đồng sang sơ kì đồ sắt. Ở đây chỉ đề cập đến văn hoá Đông Sơn - giai đoạn trước thế kỉ III tr.CN. Ở giai đoạn này tỉ lệ đồ đá trong số các hiện vật thu thập được chỉ còn chiếm khoảng 13,4 %. Công cụ và vũ khí bằng đồng đã chiếm ưu thế với tỉ lệ rất cao. Kết quả nghiên cứu ở một số di tích khoả cổ học thuộc văn hoá Đông Sơn cho thấy: Ở di tích Làng Cả tổng số hiện vật khảo cổ thuộc văn hoá Đông Sơn cho thấy: Ở di tích Làng Cả tổng số hiện vật khai quật thu thập được có 182, trong đó có 161 hiện vật bằng đồng thau, tỉ lệ 88,5 % tổng số hiện vật, đồ gồm có 12 hiện vật, chiếm 6,5 % tổng số hiện vật. Các hiện vật đá chỉ có 9, chiếm tỉ lệ 5 % tổng số hiện vật mà chủ yếu là đồ trang sức (7 khuyên tai, 1 hạt chuỗi và một hiện vật khác giống  khuy áo có 2 lỗ). Ở di tích Đông Sơn có 270 hiện vật, trong đó đồ đồng 222 hiện vật, chiếm 82,2 % , đồ sắt có 6 hiện vật, chiếm 2,2 %, đồ đá có 42 hiện vật, chiếm 15,5 %. Di tích Làng Vạc thu thập được 624 hiện vật, trong đó có 522 hiện vật bằng đồng, chiếm 83,6%, đồ thuỷ tinh có 42 hiện vật, chiếm 6,9% đồ đá có 59 hiện vật, chiếm 9,4%.

2: Địa bàn cư trú
Căn cứ vào các di tích khoả cổ học thuộc văn hoá Đông Sơn đã phát hiện được, có thể xác định địa bàn cư trú của người Việt cổ ở nước Văn Lang tương ứng với vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ của nước ta ngày nay, mà chủ yếu sống tập trung trong các đồng bằng thuộc lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả, một số ít sống rải rác dọc miền núi theo các thung lũng của miền Bắc, miền Trung nước ta.

II: SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI


1: Về kinh tế

Thời Hùng Vương do kĩ thuật luyện kim ngày càng phát triển, nên công cụ lao động bằng đồng thau ngày càng chiếm ưu thế và thay thế dần công cụ bằng đá.

Ở giai đoạn đầu (giai đoạn Phùng Nguyên), công cụ bằng đá còn chiếm ưu thế, nền kinh tế còn mang tính chất nguyên thuỷ. Sang đến giai đoạn Đồng Dậu, Gò Mun và nhất là Đông Sơn, nhiều loại hình công cụ bằng đồng ra đời và ngày càng phong phú như lưỡi cuốc, lưỡi cày, lưỡi thuổng, lưỡi xẻng, lưỡi rìu... Mỗi loại hình công cụ sản xuất cũng có các kiểu dáng khác nhau. Trong khoảng 200 chiếc lưỡi cày bằng đồng có tới 4 kiểu dáng đó là lưỡi cày hình tam giác có họng tra cán to khoẻ được phân bổ ở dọc sông Thao, lưỡi cày hình bầu dục, hình thoi được phân bổ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, lưỡi cày hình thoi được phân bố tập trung ở vùng sông Mã, lưỡi cày hình xẻng vai ngang phân bố ở vùng Làng Vạc. Cuốc bao gồm lưỡi cuốc có lỗ tra cán, cuốc hình tam giác, cuốc có vai. Cuốc chữ U, cuốc hình quạt...

Lưỡi rìu có rìu hình chữ nhật, rìu tứ diện lưỡi xoè, rìu hình lưỡi xéo, hình bàn chân, rìu lưỡi lệch. Ngoài ra còn có lưỡi liềm đồng, công cụ lao động bằng sắt. Sự tiến bộ của công cụ sản xuất đã thúc đẩy nền kinh tế  ngày càng phát triển, đạt đến trình độ khá cao. Nền kinh tế bao gồm nhiều nghành, nghề, trong đó nông nghiệp trồng lúa nước chiếm vị trí chủ đạo phổ biến rộng khắp lãnh thổ từ trung du đến đồng bằng, ven biển.

Với việc chế tạo ra lưỡi cày và nông nghiệp dùng cày đã thay thế cho nông nghiệp dùng cuốc, đánh dấu bước phát triển mới, mạnh mẽ trong nền kinh tế thời Hùng Vương. Với việc ra đời nhiều loại hình công cụ sản xuất bằng đồng còn chứng tỏ bước tiến về kĩ thuật canh tác của cư dân bấy giờ. Nông nghiệp dùng cày là nguồn cung cấp lương thực chính nuôi sống xã hội, trở thành cơ sở chủ yếu của mọi hoạt động khác.

Những di cốt trâu bò nhà tìm thấy trong cùng một di tích văn hoá Đông Sơn, hình bò khắc hoạ trên mặt trống đồng chứng tỏ dân cư thời Hùng Vương đã sử dụng trau bò làm sức kéo trong nông nghiệp. Những dấu tích thóc gạo, những công cụ gặt hái tìm thấy ở các di chỉ thuộc văn hoá Đông Sơn chứng tỏ sự phổ biến và phát triển mạnh mẽ của nghề nông trồng lúa nước thời Hùng Vương.

Sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước đòi hỏi ngày càng bức thiết phải làm công tác thuỷ lợi, khai khẩn đất đai, mở rộng diện tích canh tác. Đã có một số tài liệu cho thấy cư dân bấy giờ đã biết sử dụng biện pháp tưới, tiêu "theo nước triều lên xuống".

Với những công cụ bằng kim khí, cư dân Đông Sơn đã mở rộng địa bàn cư trú, đẩy mạnh công cuộc khai khẩn đất đai, chinh phục vùng đồng bằng ven biển Bắc bộ và bắc Trung Bộ. Cư dân đương thời đã trồng lúa trên các loại ruộng nước, bãi và nương rẫy với những hình thức canh tác phù hợp với địa hình và đất đai từng vùng. Lúa gồm có lúa tẻ và lúa nếp. Ngoài trống lúa nước là chủ yếu, người đương thời còn phát triển nghề làm vườn, trồng rau củ, cây ăn quả để làm phong phú cho nguồn lương thực. Khảo cổ học đã tìm thấy dấu vết của các loại bầu bí, đậu, khoai, sắn.

Thu hoạch trong nông nghiệp ngày càng cao. Sự tích "Bánh chưng bánh giầy" đã nói lên bước phát triển của nền nông nghiệp trồng lúa thời đó. Sử cũ của Trung Quốc cho biết vào năm 111 tr. CN, sứ giả nhà Triệu đã cống cho tướng Hán là Lộ Bác Đức 1000 hũ rượu, 100 con bò. Sự kiện đó cũng chứng tỏ sự phát triển nói trên.

Cùng với trồng trọt còn có chăn nuôi, đánh cá và thủ công nghiệp cũng rất phát triển.

Để phục vụ cho trồng trọt, cư dân bấy giờ đã đẩy mạnh chăn nuôi trâu bò để lấy sức kéo và phân bón. Nhiều di tích văn hoá Đông Sơn có xương trâu, bò. Các gia súc, gia cầm cũng được nhân dân chăn nuôi rộng rãi như lợn, gà, chó... Nghề thủ công đạt được bước tiến rất quan trọng từ khi cư dân Phùng Nguyên phát minh ra nghề luyện kim, đúc đồng, tiến lên nghề luyện sắt ở giai đoạn Đông Sơn. Việc phát hiện được những khuôn đúc đồng và xỉ đồng đã khẳng định nghề luyện kim do cư dân Hùng Vương sáng tạo ra. Kĩ thuật luyện đồng của người Việt cổ thời Đông Sơn đã đạt đến trình độ điêu luyện khiến cho các học giả nước ngoài kinh ngạc và phủ nhận tính bản địa của nó. Trống đồng, thạp đồng là những hiện vật tiêu biểu nhất cho trí tuệ và tài năng, thẩm mĩ của người thợ thủ công đúc đồng bấy giờ. Thực tế cho thấy từ Phùng Nguyên, Đồng Dậu, Gò Mun đến Đông Sơn không những số lượng các công cụ bằng đồng ngày càng tăng nhanh chóng mà còn phong phú, đa dạng loại hình và sự tiến triển về trình độ kĩ thuật mĩ thuật.

Việc nghiên cứu và nấu luyện kim đồng phù hợp với các loại hình công cụ khác nhau là một thành tưuụ lớn của người thợ thủ công đúc đồng bấy giờ. Việc cấu tạo hợp kim để chế tạo công cụ thời Hùng Vương đã trải qua 2 giai đoạn, mà giai đoạn 2 lại tốt hơn, tạo ra được những công cụ bền chắc hơn. Ở giai đoạn đầu hợp kim gồm có đồng - thiếc. Còn giai đoạn sau hợp kim gồm có đồng - chí - thíc với tỉ lệ đồng 80 - 90 %, thiếc, chì chiếm từ 10 - 10%. Để làm nóng chảy hợp kim nói trên, các thợ đúc đồng đã tạo nên một nhiệt độ trong lò luyện từ 1200 độ đến 1260 độ C và bản thân lò phải chịu được nhiệt độ 1400 độ C. Để làm được điều đó không phải dễ đối với người Việt cổ cách đây mấy ngàn năm khi khoa học kĩ thuật còn chưa phát triển.

Với kĩ thuật luyện đồng, cư dân bấy giờ đã tạo nên bước ngoặt, loại trừ hẳn đồ đá.

Trong một số di tích thời Hùng Vương như Tiên Hội, Đường Mây, Gò Chiền Vậy, Đồng Mõm, Vinh Quang tìm thấy các di vật bằng sắt. Tại khu Cổ Loa tìm thấy dấu di tích chế tạo đồ sắt. Người Đông Sơn chế tạo đồ sắt bằng phương pháp, từ cách luyện ra sắt xốp, rèn sắt đến phương pháp đúc.

Sự phát triển của trình độ kĩ thuật luyện kim nói riêng và nghề luyện kim nói chung thời Hùng Vương không những đã làm thay đổi về chất và nâng cao hiệu quả của công cụ sản xuất, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế mà còn tạo bước chuyển quan trọng trong quan hệ sản xuất - xã hội, đưa đến sự phân công lao động trong xã hội. Một số thợ thủ công tách khỏi nông nghiệp.

Nghề làm gốm cũng phát triển lên một bước. Nghệ thuạt nặn gốm bằng bàn xoay được cải tiến. Người thợ gốm bấy giờ còn biết dùng phương pháp tạo hình bằng cách đổ khuôn và nung trong lò kín chuyên dụng. Chất lượng gốm ngày càng cứng và ít thấm nước hơn, độ mịn ngày càng tăng. Trình độ tạo hình cũng ngày càng cao hơn.

Tuy nhiên, nghề làm gốm bấy giờ vẫn chưa vượt qua giới hạn gốm thô. Vào cuối thời Hùng Vương đồ gốm trở nên đơn điêu và ít chú ý đến việc gia công trang trí.

Các nghề thủ công khác như mộc, đán lát, kéo tơ, dệt vải, lụa đóng thuyền vẫn tiếp tục phát triển. Nghề sơn đã xuất hiện và đạt đến trình độ kĩ thuật khá cao vào thời Đông Sơn (Sơn có nhiều màu và trang trí đẹp).

Sự phát triển của nền kinh tế trên nhiều mặt là cơ sở cho sự mở rộng trao đổi hàng hoá với nước ngoài. Hiện tượng một số trống đồng loại I Hêgơ của nước Văn Lang ở Thailand, Malaysia... cũng như sự có mặt của những lưỡi đồng Chiến quốc ở nhiều di tích văn hoá Đông Sơn đã chứng tỏ có sự buôn bán giữa người Việt cổ đương thời với các quốc gia xung quanh vùng. Một số đồ trang sức, trâu, bò cũng đã trở thành hàng hoá trong việc buôn bán giữa văn lang - Âu lạc với các nước lân bang.

2: Sự chuyển biến xã hội
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, sự phân công lao động xã hội giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, sự trao đổi sản phẩm và các nguyên liệu giữa các địa phương ngày càng mở rộng dưới thời Hùng Vương đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng thêm nguồn của cải xã hôi. Sản phẩm từa xuất hiện ngày càng nhiều hơn, đã tạo nên cơ sở cho sự phân hoá xã hội. Những của cải chung của xã hội (do lao động công ích, do thu nhập từ ruộng đất công của chiềng, chạ) dần dần bị một số người tìm cách chiếm đaotj biến thành của riêng. Chế độ tư hữu tài sản ra đời và ngày càng phát triển theo sự phát triển của kinh tế xã hội, đồng thời cũng dẫn đến một chuyển biến xã hội quan trong là xã hội phân hoá thành kẻ giàu, người nghèo. Từ thời Phùng Nguyên, hiện tượng phân hoá xã hội đã xuất hiện, nhưng chưa đáng kể. Trong số 12 ngôi mộ khai quật ở Lũng Hoà (Phú Thọ) có 2 mộ chỉ có 2 hiện vật chôn theo người chết, 2 mộ có tới 20 hiện vật và 24 hiện vật, phổ biến là số mộ còn lại đều có từ 3 đến 13 hiện vật. Đồ tuỳ táng giống nhau gồm công cụ, đồ dùng bằng đá, gốm. Như vậy là, ở giai đoạn đầu thời Hùng Vương quan hệ cộng đồng nguyên thuỷ mới bước vào quá trình tan rã.

Từ giai đoạn Đồng Đậu, Gòn Mun đến Đông Sơn, mức độ phân hoá xã hội ngày càng rõ nét hơn. Ở khu mộ táng Làng Cả (Việt Trì - Phú Thọ) thuộc giai đoạn Đông Sơn có 307 mộ táng thì số mộ nghèo không có hiện vật tuỳ táng tới 84,1 %. Số mộ có từ 1 đến 2 hiện vật có 10,1 %. Số một có từ 11 đến 15 hiện vật có 11,8 %. Số mộ có từ 16 hiện vật trở lên chiếm 1 %. Ngôi mộ có hiện vật nhiều nhất là 23 trong đó có 15 giáo, 1 dao găm, 2 rìu, 1 thuổng, 1 thạp, 1 vò gốm, 1 bộ khoá thắt lưng có tượng rùa. Di tích mộ táng Làng Cả cho thấy hiện tượng phân hoá xã hội ở đây khá rõ rệt. Người nghèo chiếm tuyệt đại đa số trong xã hội.

Tại khu một Thiệu Dương (Thanh Hoá) có 115 mộ thuộc giai đoạn Đông Sơn thì 2 mộ không có hiện vật chôn theo, 53 mộ chỉ có đồ gốm, 20 mộ có từ 5 đến 20 hiện vật, 4 mộ có trên 20 hiện vật, đặc biệt có một số mộ lên tới 36 hiện vật. Trong số 5 mộ hình thuyền ở Việt Khê (Hải PHòng) có 4 một không có hiện vật, 1 mộ có 107 hiện vật trong đó có 93 hiện vật bằng đồng (bao gồm công cụ sản xuất, nhạc khí, đồ dùng quý giá, vũ khí). Cũng có một số khu mộ lại không thấy có hiện tượng khác nhau về số hiện vật. Theo tài liệu thống kê 714 mộ có niên đại Đông SƠn của 5 khu mộ táng nổi tiếng là Đông Sơn (102 mộ), Vinh Quang (51 mộ), Làng Vạc (226 mộ), Làng Cả (219 mộ), Thiệu Dương (116 mộ) thì số ngội mộ của người nghèo (không có hay chỉ có một số ít đồ gốm và đồ trang sức bằng đá đơn giản chiếm phần lớn (51,9 %). Những ngôi mộ của người trung bình, có một số đồ đá, gốm, có thêm một ít công cụ và vũ khí bằng đồng, hoặc có thêm công cụ sắt (chiếm 41,4 %). Những ngôi mộ của người giàu có, chôn theo nhiều đồ đồng sắt, những đồ sang trọng chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ (6,5%).

Từ sự phân tích các hiện vật trong các khu mộ táng thời Hùng Vương cho thấy xã hội bấy giờ đã có hiện tượng phân hoá thành các tầng lớp giàu nghèo khác nhau. Sự phân hoá đó đã diễn ra từ từ, ngày càng rõ nét, trải qua một quá trình lâu dài từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn. Tuy nhiên, sự phân hoá xã hội thành hai cực bấy giờ chưa sâu sắc. Sự phân hoá tài sản là biểu hiện của sự phân hoá xã hội. Gắn liền với hiện tượng này là sự ra đời của nô lệ gia trưởng, dẫn tới sự hình thành các tầng lớp xã hội khác nhau.

- Quý tộc (gồm có các tộc trưởng, tù trưởng bộ lạc, thủ lĩnh liên minh bộ lạc và những người giàu có khác).
- Nô tì
- Tầng lớp dân tự do của công xã nông thôn là tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội, giữ vai trò là lực lượng sản xuất chủ yếu.

Tầng lớp trên của xã hội ngày càng giàu có và nắm giữ các cương vị quản lí công việc công cộng của chiềng, chạ...

Như vậy, những tiền đề đầu tiên cho sự hình thành quốc gia và nhà nước thời Hùng Vương vào giai đoạn cuối Đông Sơn đã xuất hiện.

III: SỰ RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC VĂN LANG


1: Sự giải thể của công xã thị tộc và sự ra đời của công xã nông thôn.

Công xã nông thôn là một hình thái xã hội xuất hiện phổ biến vào giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ và quá độ sang xã hội có giai cấp.

Căn cứ vào các di tích khảo cổ thời Hùng Vương từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn ta thấy không những về mặt không gian có sự mở rộng dần và tập trung ở những vùng đồng bằng ven các con sông lớn của Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ mà các khu cư trú thường rộng lớn từ hàng nghìn mét vuông cho đến một vài vạn mét vuông và tầng văn hoá khá dày, nhất là giai đoạn Đông Sơn, khu cư trú được mở rộng hơn, có những khu cư trú rộng tới 250.000 m2. Những khu vực cư trú rộng lớn đó là những xóm làng đinh cư trong đó có một dòng họ chính và còn có một số dòng họ khác cùng sinh sống. Những xóm làng đó dựa trên cơ sở công xã nông thôn (bấy giờ gọi là kẻ, chiềng, chạ). Một công xã bao gồm một số gia đình, sống trên cùng một khu vực trong đó quan hệ huyết thống vẫn được bảo tồn trong công xã bên cạnh, quan hệ địa vực (láng giềng).

Sự ra đời của công xã nông thôn là một trong những tiền đề cho sự hình thành quốc gia và nhà nước.

Nhân tố thuỷ lợi và tự vệ cũng đã đóng vai trò rất quan trọng đưa đến sự hình thành lãnh thổ chung và tổ chức nhà nước đầu tiên vào thời Đông Sơn. Từ trong cuộc đấu tranh để khắc phục những trở ngại của thiên nhiên (mưa nguồn, nước lũ, bão tố, phong ba, hạn hán) đòi hỏi mọi thành viên không phải chỉ có trong từng công xã, mà nhiều công xã phải liên kết với nhau để tiến hành các công trình tưới, tiêu nước, đảm bảo cho sự phát triển một nền kinh tế mà nông nghiệp trồng lúa nước là chủ đạo.

Nước ta lại ở vào vị trí chiến lược của vùng Đông Nam Á, nằm trên đầu mối giao thông thuỷ bộ quan trọng từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây như một đầu cầu từ biển cả tiến vào đất liền. Đây cũng là nơi giao lưu kinh tế, văn hoá thuận lợi và cũng là nơi xảy ra nhiều đụng độ và nhiều mối đe doạ của giặc ngoại xâm. Yêu cầu liên kết, thống nhất lực lượng để tự vệ cũng không kém phần cấp thiết như yêu cầu liên kết để đấu tranh chống những trở ngại của thiên nhiên.

Sự tăng nhanh về tỉ lệ vũ khí so với hiện vật trong các di tích từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn đã chứng tỏ một hiện tượng nổi lên ở cuối thời Hùng Vương là xã hội có nhiều mối đe doạ và xung đột. Trong hoàn cảnh như vậy, những yêu cầu nói trên đã có tác dụng đẩy mạnh sự quần tụ, thống nhất cư dân sống trong các địa vực khác nhau có cùng tiếng nói và phong tục thành một cộng đồng cư dân thống nhất. Từ thực trạng lịch sử đó, trải qua các thế hệ nối tiếp, ý thức xây dựng và củng cố mối quan hệ liên minh giữa nhiều bộ lạc lớn với nhau mà sử cũ gọi là 15 bộ lạc thành một lãnh thổ chung do bộ lạc Văn Lang làm trung tâm. Liên minh bộ lạc Văn Lang là ngưỡng cửa của một quốc gia đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.

Căn cứ vào phạm vi phân bố của nền văn hoá Đông Sơn, chúng ta thấy trùng khớp với cương vực của nước Văn Lang thời Hùng Vương. Cương vực đó gồm có 15 bộ lạc lớn, bên cạnh những bộ lạc nhỏ khác sinh sống, có mối quan hệ láng giếng chặt chẽ do có quá trình cùng chung sống bên nhau, có cùng chung một số phận lịch sử, một nhu cầu để tồn tại và phát triển, đã dần dần tạo nên cho cả cộng đồng cư dân một lối sống chung, văn hoá chung. Và như vậy, từ các đơn vị cộng cư của một xã hội nguyên thuỷ đã hình thành các đơn vị hành chính của một quốc gia cùng với sự hình thành lãnh thổ chung và một tổ chức chung để quản lí và điều hành xã hội, đó là nhà nước Văn Lang.

2: Nhà nước Văn Lang ra đời
Dựa vào tài liệu khảo cổ học, tài liệu thành văn (sử cũ của Trung Quốc, Việt Nam) chúng ta có thể sơ bộ phác hoạ cấu trúc của nhà nước thời Hùng Vương theo hệ thống 3 cấp của bộ máy cai trị tương ứng với 3 cấp quan chức như sau: Đứng đầu nước Văn Lang là Hùng VƯơng. Ngôi Hùng Vương cha truyền con nối. Hùng Vương đồng thời là người chỉ huy quân sự, chủ trì các nghi lễ tôn giáo.

Dưới dùng vương và giúp việc cho Hùng Vương có các lạc hầu, lạc tướng. Lạc tướng còn trực tiếp cai quản công việc của các bộ. Nước Văn Lang có 15 bộ, vốn là 15 bộ lạc trước đó. Lạc tướng (trước đó là tù trưởng) cũng thế tập cha truyền con nối, còn gọi là phụ đạo, bộ tướng.. Dưới bộ là các công xã nông thôn (bấy giờ có tên gọi là kẻ, chạ, chiềng). Đứng đầu kẻ, chạ, chiềng là các bồ chính (có nghĩa là già làng). Bênh cạnh bồ chính có lẽ còn có một nhóm người hình thành một tổ chức có chức năng như một hội đồng công xã để tham gia điều hành công việc của kẻ chạ, chiềng. Mỗi công xã nông thôn có một nơi để hội họp, sinh hoạt cộng đồng, thường là một ngôi nhà công cộng.

Căn cứ vào lời tâu của Mã Viện lên vua nhà Hán về tình hình Âu Lạc trước khi nhà Hán xâm lược và đô hộ nước ta, có thể nghĩ rằng, bấy giờ nhà nước Văn Lang đã có pháp luật để điều hành xã hội. Sách Hậu Hán Thư viết: "Luật Việt" khác luật Hán hơn 10 việc Có lẽ "Luật Việt" mà Mã Viện dùng là một thứ luật tục. Sử sách thường ghì cư dân nước ta thời bấy giờ là người Lạc Việt và quốc hiệu Văn Lang do vua Hùng đặt.

Sách Việt Sử Lược ghi rằng: đến đời Trang Vương nhà Chu (696 - 682 tr.CN) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu nước là Văn Lang. Việt Vương Câu Tiễn (505 - 462 TCN) cho người đến dụ hàng nhưng Hùng Vương không theo. Sách Lịch triều hiến chương loại chí cũng ghi: đời Hùng Vương dựng nước gọi là nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, chia nước ra làm 15 bộ. Chỗ nhà vua ở gọi là nước Văn Lang.

Dựa vào các tài liệu và những thành tựu nghiên cứu về thời đại Hùng Vương hiện nay có thể đoán định có cơ sở rằng thời điểm ra đời của nhà nước Văn Lang với tư cách là một nhà nước sơ khai là vào khoảng thế kỉ VII - VI TCN. Sự ra đời sớm của nhà nước Văn Lang, dù còn sơ khai, đã đánh dấu một bước phát triển lớn lao có ý nghĩa thời đại trong lịch sủ Việt Nam - mở đầu thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc ta.

Nhận xét