VIỆT NAM HOÀN TOÀN TRỞ THÀNH THUỘC ĐỊA CỦA PHÁP (6/6/1884)

Kí hiệp ước Hác Măng, triều đình Huế đã phản bội lại nhân dân cả nước. Mặc dù vậy, quân dân ngoài Bắc vẫn quyết tâm kháng chiến đến cùng. Lệnh triệt binh do Hác Măng và khâm sai triều đình mang ra Bắc không ai nghe theo. Vòng vây của quân dân ta xung quanh Hà Nội vẫn thắt chặt, đại quân của Hoàng Tá Viêm có đội Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc phối hợp vẫn đống giữ phòng tuyến sông Đáy, đại quân của Trương Quang Đản vẫn đóng giữ Bắc Ninh.

Đồng thời, phong trào phản đối lệnh triệt binh của triều đình Huế cũng dâng cao khắp các tỉnh. Rất đông quan lại ở các địa phương không chịu về kinh theo lệnh triều đình, cương quyết ở lại mộ nghĩa dũng đánh giặc như Tạ Hiện, Nguyễn Thiện Thuật, Phan Vụ Mẫn, Hoàng Văn Hoè, Lã Xuân Oai... Tình hình đó buộc Cuốc Bê mời được thay Hác Măng từ cuối tháng 10/1883 phải ra lệnh thiết quân luật ở Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương, Quảng Yên.

Đầu tháng 12/1883, nhận được thêm viện binh từ Pháp sang, Cuốc Bê quyết định đánh Sơn Tây lần thứ hai. Đây là cuộc hành quân lớn huy động  tới gần 6000 quân vừa Pháp vừa Nguỵ, lại có nhiều đại bác và tàu chiến yểm hộ. Quân Pháp xuất phát từ Hà Nội ngày 11 và 12, gần trưa ngày 14 bắt đầu tấn công đồn Phù Sa là đồn tiền tiêu bảo vệ mạn đông thành Sơn Tây. Quan quân ta kháng cự quyết liệt, nhiều lần xung phong đánh lui các đợt tấn công của địch. Nhưng nhờ có ưu thế về đại bác, đến chiều giặc Pháp đã chiếm được đồn Phù Sa, hai ngày sau công hãm thành Sơn Tây. Quân ta chống giữ từng tấc đất, gần tối địch vẫn không sao đột nhập được vào thành. Cuối cùng, giặc Pháp cho tay sai thừa lúc đêm tối lẻn vào thành treo cờ Pháp lên cột cờ, quan quân tưởng thành đã mất nên rối loạn. Thừa thế, giặc Pháp xông lên chiếm thành, quân quân triều đình phải rút về phía Hưng Hoá.

Thành Sơn Tây lọt vào tay Pháp, gọng kìm quan trọng nhất của quan quân triều đình siết chặt Hà Nội bị bẻ gẫy.

Sau trận thắng Sơn Tây, thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị đánh sang Bắc Ninh. Đầu tháng 3/1884, sau khi nhận thêm viện binh ở Pháp gửi sang, Millot thay Cuốc Bê cuối năm 1883 quyết định tấn công Bắc Ninh. Quân Pháp chia thành hai đạo, một xuất phát từ Hà Nội do Briere De L'ISLE chỉ huy, một từ Lục Nam do Négrier chỉ huy, cùng bắt đầu tiến đánh Bắc Ninh ngày mồng 7/3/1884. Ngày 12/3/1884, hai cánh quân địch đã khép gọng kìm chiếm được Bắc Ninh. Quân đội nhà Thanh (Trung Quốc) lúc đó đóng cả trong và ngoài thành đông tới vạn người, nhưng chỉ chống cự lấy lệ, giặc Pháp tiến tới đâu là chúng rút lui đến đấy, cuối cùng lại rút về hướng Thái Nguyên và Lạng Sơn. Quan quân triều đình do Trương Quang Đản chỉ huy lại ngồi yên xem hai bên Pháp - Thanh đánh nhau. Trong khi đó thì Lưu Vĩnh Phúc vội điều quân về tiếp ứng, nhưng vừa về tới nơi thì thành Bắc Ninh đã mất, ông đành phải lui quân về Hưng Hoá. Gọng kìm thứ hai, gọng kìm cuối cùng của quan quân Triều Đình uy hiếp thực dân Pháp ở Hà Nội cũng bị bẻ gãy.

Sau khi chiếm Bắc Ninh, Pháp tranh thủ mở rộng phạm vi chiếm đóng. Pháp cho quân đánh chiếm Thái Nguyên (19/3/1884), Hưng Hoá (12/4/1884), Tuyên Quang (31/5/1884). Bấy giớ mối lo ngại lớn của Pháp trên chiến trường phía Bắc vẫn là đội quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, đội quân này đã bao vây và công hãm chặt chẽ thành Tuyên Quang suốt 9 tháng trời, giam chân một tiểu đoàn địch trong thành, mọi đường liên lạc với bên ngoài đều bị cắt đứt.

Từ đầu năm 1884, chiến sự diễn ra ngày một thêm ác liệt trên chiến trường Bắc Kì. Trong khi một số đơn vị quân Thanh tham gia chiến đấu thì Chính phủ Pháp và triều đình Bắc Kinh lại chủ trương nối lại các cuộc thương thuyết về vấn đề Việt Nam. Mặc dù triều đình Huế đã kí hiệp ước năm 1883 công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam, nhưng Pháp vẫn muốn tránh cuộc xung đột với quân Thanh trên chiến trường Bắc Kì. Còn triều đình Thanh tuy vẫn muốn vớt vát chút ít quyền lợi ở Việt Nam, nhưng cũng không dám có hành động quyết liệt. Cuộc thảo luận Pháp - Thanh đã dẫn tới việc kí kết tại Thiên Tân bản qui ước 11/5/1884 gồm 5 khoản, đặt cơ sở cho một hoà ước lâu dài về sau.

Trên đà thắng thế, ngày mồng 6/6/1884, chính phủ Pháp lại cử Patonot cùng triều đính Huế kí bản điều ước mới. 

Điều ước Patonot ngày 6/6/1884 đặt cơ sở lâu dài và chủ yếu cho quyền đô hộ của Pháp ở VIệt Nam. Về hình thức, tuy thực dân Pháp có giao lại cho triều đình Huế ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh  ở phía Bắc, tỉnh Bình Thuận ở phía nam và cho triều đình Huế có đội quân riêng, nhưng trong thực tế cả ba miền Bắc - Trung - Nam đã hoàn toàn lọt vào tay Pháp. Điều ước Patonot đã cắt Việt Nam ra làm ba miền với ba chế độ khác nhau. 

Sau khi điều ước mới được kí kết, với mục đích cứt đứt hoàn toàn và vĩnh viễn mọi quan hệ giữa phong kiến hai nước Việt Nam và Trung Quốc, thực dân Pháp còn bắt triều đình Huế nấu chảy chiếc ấn của Vua Gia Long đúc tứ khi khai lập Nhà Nguyễn năm 1802 cũng bị nấu chảy ra trước sự chứng kiến của các quan chức cao cấp thực dân.

Điều ước Patonốt được chính phủ Pháp thông qua ngày mồng 7/5/1885. Đến đây giai cấp phong kiến Việt Nam đã hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp. Nhà nước phong kiến Việt Nam, với tư cách là một nhà nước độc lập có chủ quyền, đã hoàn toàn sụp đổ. Nước Việt Nam đã trọn vẹn trở thành thuộc địa của tư bản Pháp.

Nhận xét