TOÀN CẢNH SỨC MẠNH LỤC QUÂN VIỆT NAM 2026

Các lực lượng Binh chủng hợp thành, hay được gọi chung là Lục quân, là bộ phận chính cấu thành nên Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lục quân có quân số khoảng từ 400-500 ngàn người và lực lượng dự bị khoảng gần 5 triệu người chiếm đến trên 80% nhân lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lục quân chiếm vị thế hết sức quan trọng trong quân đội. Do vậy, Lục quân Việt Nam đã không được tổ chức thành 1 bộ tư lệnh riêng mà đặt dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, sự chỉ đạo chuyên ngành của các tổng cục và cơ quan chức năng khác.

Đến năm 2030, Quân đội nhân dân Việt Nam dự kiến lấy cấp sư đoàn làm đơn vị cơ bản để xây dựng và chính thức thành lập Quân chủng Lục quân, có thể xây dựng theo các mô hình: sư đoàn mạnh, tăng thêm về tăng thiết giáp, pháo binh, phòng không, có thể biên chế trung đoàn bộ binh cơ giới; sư đoàn nhẹ, tổ chức như sư đoàn hiện nay biên chế ở cấp quân khu, nhất là quân khu ở địa hình rừng núi. Tổ chức Bộ Tư lệnh Lục quân chỉ huy lực lượng cơ động chiến lược gồm các sư đoàn mạnh và các lữ đoàn binh chủng hiện đại.

TỔ CHỨC
Tổ chức của lục quân theo binh chủng gồm có Bộ binh, Bộ binh cơ giới, Pháo binh, Đặc công, Công binh, Thông tin Liên lạc... Lục quân được phân làm hai lực lượng cơ bản.

Lục quân chủ lực bao gồm lực lượng lục quân trực thuộc bộ và lục quân các quân khu:

- Lục quân trực thuộc bộ: gồm 2 quân đoàn bộ binh hợp thành lần lượt là: Quân đoàn 12, Quân đoàn 34, các lữ đoàn trực thuộc các binh chủng của Lục quân.
- Lục quân trực thuộc quân khu gồm 7 quân khu, mỗi quân khu có từ 2 - 4 sư đoàn bộ binh, một vài trung đoàn bộ binh độc lập, các trung - lữ đoàn binh chủng lục quân.

Lục quân địa phương: tại các địa phương, lục quân gần như đơn thuần là bộ binh, lực lượng binh chủng chủ yếu báo vệ địa phương. Lục quân địa phương cũng được chia làm hai bộ phận căn bản:

- Lực lượng trực thuộc các tỉnh thành: Mỗi tỉnh có từ 1 - 2 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo và các đại đội binh chủng.
- Lực lượng trực thuộc các quận huyện: gồm các ban chỉ huy quân sự các quận huyện, 1 - 2 tiểu đoàn dự bị động viên, 1 trung đội - 1 đại đội bộ binh thường trực.

Lục quân Việt Nam không tổ chức thành bộ tư lệnh riêng mà đặt dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị; sự chỉ đạo chuyên ngành của các tổng cục và cơ quan chức năng khác. Khi mới thành lập, Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ có lục quân với bộ binh là chính. Qua quá trình xây dựng, Lục quân đã từng bước phát triển cả về quy mô tổ chức và lực lượng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

QUÂN KHU
Quân khu là tổ chức quân sự có nhiệm vụ trấn giữ một địa bàn trên lãnh thổ Việt Nam. Mỗi quân khu có một số đơn vị gồm các sư đoàn và trung đoàn chủ lực. Quân khu cũng tổ chức và chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân tự vệ trên địa bàn quân khu.

Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội Quân khu 1 Quân khu 2 Quân khu 3 Quân khu 4 Quân khu 5 Quân khu 7 Quân khu 9.

QUÂN ĐOÀN
Quân đoàn là đơn vị cơ động chiến lược của Lục quân trực thuộc Bộ Quốc phòng được bố trí để bảo vệ các vùng trọng yếu của quốc gia và thực hiện các nhiệm vụ quân sự theo sự điều động của Bộ Quốc phòng. Quân đoàn bao gồm các sư đoàn và các đơn vị nhỏ hơn.

Quân đoàn 12 Ngày 29/11, tại Ninh Bình, Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị tiếp nhận nguyên trạng các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đoàn 1, Quân đoàn 2 và Phân viện 5 (Bệnh viện 7, Quân khu 3) về Quân đoàn 12.

Quân đoàn 34 Quân đoàn được thành lập ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trên cơ sở sáp nhập Quân đoàn 3 và Quân đoàn 4.

TRANG BỊ VŨ KHÍ
Lục quân Việt Nam được trang bị theo hướng hiện đại, gọn nhẹ, có khả năng cơ động cao, có sức đột kích và hoả lực mạnh, có khả năng tác chiến trong các điều kiện địa hình, thời tiết, khí hậu, phù hợp với nghệ thuật chiến tranh nhân dân hiện đại. Trải qua thử thách trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, Lục quân đã từng bước trưởng thành, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và tạo nên truyền thống vẻ vang. Tất cả các quân đoàn, hầu hết các binh chủng và nhiều đơn vị của Lục quân đã được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân. Tổng số khí tài của Quân đội Nhân dân Việt Nam không có thông tin chính xác, tuy nhiên, theo một số nguồn, tính đến năm 2019 Việt Nam sở hữu khoảng 2.575 xe tăng, 2.530 xe bọc thép, 2.200 khẩu pháo xe kéo.

XE TĂNG T90 VŨ KHÍ CHỦ LỰC CỦA LỤC QUÂN VIỆT NAM
Xe tăng T-90S/SK là dòng xe tăng chiến đấu chủ lực hiện đại nhất của Lục quân Việt Nam, được nhập khẩu từ Nga (hợp đồng ký năm 2016, giao hàng từ 2017-2019). Với hỏa lực mạnh, lớp giáp phức hợp, hệ thống phòng vệ chủ động/thụ động và khả năng cơ động cao, T-90S được xem là "nắm đấm thép" hiện đại hóa lực lượng Tăng - Thiết giáp. 

T-90, cũng như phiên bản T-90S/SK được trang bị hệ thống vũ khí cực mạnh và tự động hóa cao với máy tính đường đạn, các cảm biến quang-ảnh nhiệt, khí tài quan sát, hệ thống tự động bám mục tiêu... cho phép xe tăng tấn công chính xác mục tiêu trong mọi điều kiện thời gian, thời tiết. Cùng với đó, hệ thống ổn định pháo chính đa trục giúp phương tiện có thể bắn chính xác kể cả khi đang di chuyển.

Pháo chính nòng trơn 2A46M5 cỡ 125mm được trang bị hệ thống ổn định tầm hướng 2E42-4 và hệ thống nạp đạn tự động mới nhất giúp xe tăng T-90S có tốc độ bắn cao (khoảng từ 7-8 phát phút). Kết hợp với đó là súng máy song song PKT 7,62mm, súng máy phòng không 12,7mm cung cấp hỏa lực các tầm, các hướng cho phương tiện trong chiến đấu.

Ngoài các loại đạn pháo tăng uy lực thì xe tăng T-90S còn được trang bị hệ thống tên lửa chống tăng 9M119M Refleks bắn qua nòng pháo chính có khả năng tấn công chính xác cao ở phạm vi tới 5km và khả năng xuyên phá 950mm giáp thép. Đây là vũ khí lợi hại của xe tăng T-90S trên chiến trường.

Khi nói tới xe tăng thì một yếu tố quan trọng khác chính là khả năng bảo vệ. Xe tăng T-90S được trang bị hệ thống giáp phức hợp, bao gồm giáp chính, giáp phản ứng nổ và hệ thống phòng vệ chủ động. T-90S được coi là một trong những dòng xe tăng có khả năng bảo vệ tốt nhất trên thế giới hiện nay. Thực tế chiến trường chứng minh, dù bị tấn công bằng nhiều loại vũ khí chống tăng, xe tăng T-90 vẫn có thể đứng vững và bảo vệ kíp chiến đấu an toàn.

Vỏ giáp trước của xe tăng T-90S được làm từ vật liệu composite kết hợp từ nhiều lớp vật liệu khác nhau có khả năng bảo vệ tương đương 550 - 650 mm thép cán khi chống lại đạn xuyên giáp động năng hay 750mm khi đối phó với các loại vũ khí chống tăng hóa năng. Khi được trang bị thêm giáp phản ứng nổ thế hệ 2 là Kontakt-5 thì thông số này có thể tăng lên tương ứng là 800-830mm và 1.150-1.350mm.

Xe tăng T-90S còn được trang bị hệ thống áp chế điện tử Shtora-1 gồm hệ thống cảm biến và đèn hồng ngoại có chức năng gây nhiễu, chế áp hệ thống dẫn đường laser và hồng ngoại của tên lửa chống tăng.  Được đặt biệt danh là “xe tăng bay”, nên T-90S có khả năng cơ động mạnh mẽ nhờ động cơ diesel tăng áp công suất 1.000 mã lực kèm hệ thống treo tiên tiến. Sự kết hợp trên giúp phương tiện có thể vượt qua các chướng ngại vật dễ dàng.

Theo giới thiệu của nhà sản xuất, xe tăng T-90S có thể đạt tốc độ tối đa lên tới 60km/giờ với dự trữ hành trình khoảng 550km.  Bên cạnh đó, T-90S còn được lắp đặt hệ thống dẫn đường hiện đại, điều hòa nhiệt độ... đảm bảo điều kiện hoạt động hết sức thuận lợi cho kíp điều khiển.

ĐẶC CÔNG - BINH CHỦNG TINH NHUỆ NHẤT CỦA LỤC QUÂN VIỆT NAM
Binh chủng Đặc công là binh chủng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam, do Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp quản lý và chỉ đạo. Binh chủng Đặc công có nhiệm vụ tập trung nghiên cứu, tham mưu cho Bộ Quốc phòng Việt Nam xây dựng và phát triển các lực lượng Đặc công theo hướng tinh - gọn - chất lượng cao. Đây là một lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, quân nhân được tổ chức, trang bị và huấn luyện đặc biệt, có phương pháp tác chiến linh hoạt, táo bạo, bất ngờ, thường dùng để tập kích bất ngờ vào các mục tiêu hiểm yếu nằm sâu trong đội hình chiến đấu, bố trí chiến dịch và hậu phương của địch.

Nhận xét