Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng quân sự của Việt Nam đồng thời là lực lượng nòng cốt của Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Theo Bộ Quốc phòng Việt Nam, sứ mệnh là: "vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân". Ngày truyền thống là ngày 22 tháng 12 hàng năm. Quân kỳ là quốc kỳ Việt Nam có thêm dòng chữ "Quyết thắng" màu vàng ở góc phía trên bên trái (hay phía cột cờ). Mười lời thề danh dự nói rằng có nhiệm vụ: "Không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa, tinh thần quốc tế vô sản, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội".
Quân đội nhân dân là một bộ phận và là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm Lực lượng Thường trực và Lực lượng Dự bị Động viên. Lực lượng Thường trực của Quân đội nhân dân có Bộ đội Chủ lực và Bộ đội Địa phương. Cấp tổ chức của Quân đội nhân dân Việt Nam từ thấp đến cao là tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn (trước đây gọi là đại đoàn). Cấp cao nhất là quân đoàn, hiện nay có hai quân đoàn là các quân đoàn 12 và 34. Đây chính là quân chủ lực cơ động.
Quân đội nhân dân Việt Nam bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương; các quân khu, quân chủng, bộ đội biên phòng, quân đoàn, binh chủng; hệ thống các đơn vị bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu và các đơn vị kinh tế-quốc phòng.
1: LỤC QUÂN QĐND VIỆT NAM
Các lực lượng Binh chủng hợp thành, hay được gọi chung là Lục quân, là bộ phận chính cấu thành nên Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lục quân có quân số khoảng từ 400-500 ngàn người và lực lượng dự bị khoảng gần 5 triệu người chiếm đến trên 80% nhân lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lục quân chiếm vị thế hết sức quan trọng trong quân đội. Do vậy, Lục quân Việt Nam đã không được tổ chức thành 1 bộ tư lệnh riêng mà đặt dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, sự chỉ đạo chuyên ngành của các tổng cục và cơ quan chức năng khác.
Đến năm 2030, Quân đội nhân dân Việt Nam dự kiến lấy cấp sư đoàn làm đơn vị cơ bản để xây dựng và chính thức thành lập Quân chủng Lục quân, có thể xây dựng theo các mô hình: sư đoàn mạnh, tăng thêm về tăng thiết giáp, pháo binh, phòng không, có thể biên chế trung đoàn bộ binh cơ giới; sư đoàn nhẹ, tổ chức như sư đoàn hiện nay biên chế ở cấp quân khu, nhất là quân khu ở địa hình rừng núi. Tổ chức Bộ Tư lệnh Lục quân chỉ huy lực lượng cơ động chiến lược gồm các sư đoàn mạnh và các lữ đoàn binh chủng hiện đại.
Lục quân Việt Nam được trang bị theo hướng hiện đại, gọn nhẹ, có khả năng cơ động cao, có sức đột kích và hoả lực mạnh, có khả năng tác chiến trong các điều kiện địa hình, thời tiết, khí hậu, phù hợp với nghệ thuật chiến tranh nhân dân hiện đại. Trải qua thử thách trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, Lục quân đã từng bước trưởng thành, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và tạo nên truyền thống vẻ vang. Tất cả các quân đoàn, hầu hết các binh chủng và nhiều đơn vị của Lục quân đã được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân. Tổng số khí tài của Quân đội Nhân dân Việt Nam không có thông tin chính xác, tuy nhiên, theo một số nguồn, tính đến năm 2019 Việt Nam sở hữu khoảng 2.575 xe tăng, 2.530 xe bọc thép, 2.200 khẩu pháo xe kéo.
XE TĂNG T90 VŨ KHÍ CHỦ LỤC CỦA LỤC QUÂN VIỆT NAM
Xe tăng T-90S/SK là dòng xe tăng chiến đấu chủ lực hiện đại nhất của Lục quân Việt Nam, được nhập khẩu từ Nga (hợp đồng ký năm 2016, giao hàng từ 2017-2019). Với hỏa lực mạnh, lớp giáp phức hợp, hệ thống phòng vệ chủ động/thụ động và khả năng cơ động cao, T-90S được xem là "nắm đấm thép" hiện đại hóa lực lượng Tăng - Thiết giáp.
T-90, cũng như phiên bản T-90S/SK được trang bị hệ thống vũ khí cực mạnh và tự động hóa cao với máy tính đường đạn, các cảm biến quang-ảnh nhiệt, khí tài quan sát, hệ thống tự động bám mục tiêu... cho phép xe tăng tấn công chính xác mục tiêu trong mọi điều kiện thời gian, thời tiết. Cùng với đó, hệ thống ổn định pháo chính đa trục giúp phương tiện có thể bắn chính xác kể cả khi đang di chuyển.
Pháo chính nòng trơn 2A46M5 cỡ 125mm được trang bị hệ thống ổn định tầm hướng 2E42-4 và hệ thống nạp đạn tự động mới nhất giúp xe tăng T-90S có tốc độ bắn cao (khoảng từ 7-8 phát phút). Kết hợp với đó là súng máy song song PKT 7,62mm, súng máy phòng không 12,7mm cung cấp hỏa lực các tầm, các hướng cho phương tiện trong chiến đấu.
Ngoài các loại đạn pháo tăng uy lực thì xe tăng T-90S còn được trang bị hệ thống tên lửa chống tăng 9M119M Refleks bắn qua nòng pháo chính có khả năng tấn công chính xác cao ở phạm vi tới 5km và khả năng xuyên phá 950mm giáp thép. Đây là vũ khí lợi hại của xe tăng T-90S trên chiến trường.
Khi nói tới xe tăng thì một yếu tố quan trọng khác chính là khả năng bảo vệ. Xe tăng T-90S được trang bị hệ thống giáp phức hợp, bao gồm giáp chính, giáp phản ứng nổ và hệ thống phòng vệ chủ động. T-90S được coi là một trong những dòng xe tăng có khả năng bảo vệ tốt nhất trên thế giới hiện nay. Thực tế chiến trường chứng minh, dù bị tấn công bằng nhiều loại vũ khí chống tăng, xe tăng T-90 vẫn có thể đứng vững và bảo vệ kíp chiến đấu an toàn.
Vỏ giáp trước của xe tăng T-90S được làm từ vật liệu composite kết hợp từ nhiều lớp vật liệu khác nhau có khả năng bảo vệ tương đương 550 - 650 mm thép cán khi chống lại đạn xuyên giáp động năng hay 750mm khi đối phó với các loại vũ khí chống tăng hóa năng. Khi được trang bị thêm giáp phản ứng nổ thế hệ 2 là Kontakt-5 thì thông số này có thể tăng lên tương ứng là 800-830mm và 1.150-1.350mm.
Xe tăng T-90S còn được trang bị hệ thống áp chế điện tử Shtora-1 gồm hệ thống cảm biến và đèn hồng ngoại có chức năng gây nhiễu, chế áp hệ thống dẫn đường laser và hồng ngoại của tên lửa chống tăng. Được đặt biệt danh là “xe tăng bay”, nên T-90S có khả năng cơ động mạnh mẽ nhờ động cơ diesel tăng áp công suất 1.000 mã lực kèm hệ thống treo tiên tiến. Sự kết hợp trên giúp phương tiện có thể vượt qua các chướng ngại vật dễ dàng.
Theo giới thiệu của nhà sản xuất, xe tăng T-90S có thể đạt tốc độ tối đa lên tới 60km/giờ với dự trữ hành trình khoảng 550km. Bên cạnh đó, T-90S còn được lắp đặt hệ thống dẫn đường hiện đại, điều hòa nhiệt độ... đảm bảo điều kiện hoạt động hết sức thuận lợi cho kíp điều khiển.
2: QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN
Quân chủng Phòng không – Không quân là một trong ba quân chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam trực thuộc Bộ Quốc phòng, Quân chủng có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ không phận, mặt đất và biển đảo Việt Nam; cứu trợ, tìm kiếm cứu nạn và các nhiệm vụ khác .
Quân chủng Phòng không – Không quân đảm nhiệm cả nhiệm vụ của bộ đội phòng không quốc gia và của không quân. Đây là lực lượng nòng cốt quản lý, bảo vệ vùng trời, bảo vệ các mục tiêu trọng điểm quốc gia, bảo vệ nhân dân đồng thời tham gia bảo vệ các vùng biển đảo của Tổ quốc. Lực lượng Phòng không – Không quân có thể độc lập thực hiện nhiệm vụ hoặc tham gia tác chiến trong đội hình quân binh chủng hợp thành. Quân chủng làm tham mưu cho Bộ Quốc phòng chỉ đạo xây dựng lực lượng phòng không lục quân và không quân thuộc các quân chủng, binh chủng, ngành khác. Lực lượng không quân vận tải ngoài nhiệm vụ vận chuyển phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu còn tham gia các hoạt động cứu trợ thiên tai và phát triển kinh tế.
Quân chủng Phòng không – Không quân được tổ chức thành Bộ tư lệnh Quân chủng, các đơn vị chiến đấu; khối bảo đảm; khối nhà trường và các đơn vị kinh tế. Bộ Tư lệnh quân chủng có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh; Chính uỷ và Phó Chính uỷ, các cơ quan đảm nhiệm các mặt công tác quân sự; công tác đảng, công tác chính trị; kỹ thuật; hậu cần và các đơn vị trực thuộc. Quân chủng có các sư đoàn không quân, sư đoàn phòng không và một số đơn vị không quân trực thuộc là các đơn vị chiến đấu chủ yếu.
SU30MK2 MÁY BAY CHIẾN ĐẤU HIỆN ĐẠI NHẤT CỦA KHÔNG QUÂN VIỆT NAM
Su-30MK2 ("Hổ mang chúa") là tiêm kích đa năng thế hệ 4 do Nga sản xuất, là xương sống trong sức mạnh không quân Việt Nam. Việt Nam sở hữu khoảng 35 chiếc, được trang bị radar hiện đại, khả năng cơ động cao, tác chiến trong mọi điều kiện thời tiết, chuyên nhiệm vụ chiếm ưu thế trên không và tấn công biển/đất.
Về tổng quan SU-30 MK2 là một hệ thống vũ khí tiến công xung kích đường không nhiều mục đích, được phát triển trên cơ sở các biến thể của máy bay tiêm kích Su-27, gồm các tổ hợp vũ khí có điều khiển chính xác và khí tài chiến đấu nhiều tính năng dùng để thực hiện nhiều loại hình nhiệm vụ chiến đấu khác nhau của lực lượng không quân chiến thuật.
Su-30 MK2 trang bị Radar 1 trong số các loại radar xung Doppler sau: N001VE, Phazotron N010 Zhuk-27, N011M BARS (radar quét mảng pha điện tử bị động). N011M BARS có khả năng phát hiện và theo dõi mục tiêu mạnh, lên đến 15 mục tiêu trên không, trong khi có thể đồng thời tấn công 4 mục tiêu trong số đó.
Radar N011M BARS có thể dò tìm các mục tiêu lớn trên biển trong khoảng cách lên đến 400 km (248.5 mi), máy bay ném bom cỡ lớn ở cự ly 200 km và các mục tiêu là tiêm kích cỡ nhỏ trong khoảng cách 120 km (74.5 mi).
Khả năng này vượt trên radar APG-63V(1) trang bị cho F-15C/D Eagle của Mỹ (tầm phát hiện mục tiêu trên không là 110–160 km tùy kích thước mục tiêu, theo dõi 14 mục tiêu và đồng thời tấn công 4 mục tiêu trong số đó).
Hệ thống điện tử khác bao gồm một hệ thống ngắm bắn và dẫn đường tích hợp, với một hệ thống dẫn đường con quay laser; hệ thống hiển thị trên mũ phi công, màn hình hiển thị trước buồng lái HUD, màn hình LCD hiển thị đa chức năng với khả năng hiển thị trộn lẫn hình ảnh; và một hệ thống GPS (tương thích GLONASS/NAVSTAR).
Nga trang bị hệ thống bệ đỡ radar linh hoạt cho các máy bay chiến đấu Su-30 khiến nó có góc quét rộng vượt trội so với các đối thủ sử dụng cùng thế hệ radar tương tự của phương Tây.
Hệ thống dò tìm tia hồng ngoại và laser để tìm kiếm và điều khiển vũ khí tấn công các mục tiêu kích thước nhỏ.
Hệ thống này rất hữu dụng trong việc đối phó với các mục tiêu mà radar khó phát hiện như máy bay tàng hình (máy bay tàng hình được thiết kế để có mức độ bộc lộ trước radar rất thấp, nhưng mức độ phát ra tia hồng ngoại thì vẫn tương tự như máy bay thường do đều phải sử dụng động cơ phản lực tỏa ra nhiều nhiệt).
Máy bay được cung cấp phương tiện chống gây nhiễu điện tử ECCM và đối phó với các thiết bị điện tử quang học của đối phương.
Động cơ của máy bay là 2 động cơ phản lực cánh quạt tỷ lệ vòng thấp Saturn AL-31FP. Cung cấp lực đẩy sau khi đốt nhiên liệu lần 2 là 245 kN (25.000 kgf), đạt vận tốc Mach 2, nó có tốc độ 1.350 km/h tại độ cao thấp, và vận tốc leo cao là 230 m/s.
Nó có thể mang thông thường 5.270 kg nhiên liệu trong các thùng chứa (không tính nhiên liệu trong các thùng chứa phụ), Su-30MK có khả năng thực hiện liên tục nhiệm vụ trong 4.5 giờ trong phạm vi 3.000 km.
Trong khi bay, nếu được tiếp nhiên liệu trên không thì nó có thể duy trì 10 giờ bay nhiệm vụ với tầm bay là 8.000 km trên độ cao hành trình từ 11 đến 13 km.
Máy bay có chế độ lái tự động trong mọi giai đoạn bay, gồm bay thấp trong mọi địa hình, bay riêng và theo nhóm chống lại mục tiêu trên không - mặt đất - trên biển. Hệ thống điều khiển tự động được kết nối với hệ thống dẫn đường để đảm bảo máy bay bay đúng đường, tự động tiếp cận địch, tìm được đường về căn cứ và hạ cánh tự động.
Không giống như dòng máy bay Su-30 Nam Á với đại diện tiêu biểu là loại Su-30 MKI của Ấn Độ hay Su-30 MKM của Malaysia, loại Su-30 MK2 không có cánh canard - cánh mũi vốn được dùng cho các máy bay được ưu tiên nhiệm vụ không chiến.
Thuộc dòng SU-30 Đông Á, Su-30MK2 này không chú trọng tính năng cơ động siêu linh hoạt trong cận chiến như nhóm Su-30 của Ấn Độ hay Malaysia, nhưng bù lại ở khả năng mang trữ nhiên liệu bay đường dài và được trang bị khí tài thông tin liên lạc và tiếp chuyển tình báo tầm xa.
Những chiếc Su-30MK2V của Không quân nhân dân Việt Nam là một phiên bản đặc biệt với những cải tiến phụ cho phù hợp với nhu cầu tác chiến trên biển nhiệt đới và hệ thống điện tử nội địa của không quân Nga không dành cho bản xuất khẩu.
Máy bay có thể mang các loại tên lửa chống radar Kh-31P, tên lửa dẫn đường bằng laser Kh-39, Kh-29 T/L, tên lửa không đối không R-27, R-73, RRVE, bom có điều khiển KAB 500KR, KAB-1500KR, FAB-500T với tổng khối lượng tới 8 tấn (một số nguồn cho biết con số này có thể lên tới 12 tấn nếu một số bộ phận máy bay được làm bằng composite).
3: QUÂN CHỦNG HẢI QUÂN - QĐND VIỆT NAM
Quân chủng Hải quân, hay còn gọi là Hải quân nhân dân Việt Nam, là một quân chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Hải quân nhân dân Việt Nam có 6 đơn vị: Tàu mặt nước, Hải quân đánh bộ, Tên lửa-Pháo bờ biển, Không quân Hải quân, Tàu ngầm, Đặc công Hải quân,... ngoài ra còn có các đơn vị bảo đảm, phục vụ như Thông tin, Rađa, Tác chiến điện tử, Công binh, Hóa học. Quân chủng bao gồm các cấp đơn vị: hải đội, hải đoàn, binh đoàn Hải quân đánh bộ, binh đoàn tàu mặt nước, binh đoàn tàu ngầm, binh đoàn không quân, tên lửa bờ và các binh đoàn bộ đội chuyên môn, các đơn vị kỹ thuật, hậu cần,..
Về tổ chức cấp Hạm đội (tương đương cấp Quân đoàn ở Lục quân), trước đây vào những năm 1970, Hải quân nhân dân Việt Nam từng tổ chức một hạm đội tàu chiến cơ động mang phiên hiệu Hạm đội 171 trên cơ sở sáp nhập Trung đoàn 171 và Trung đoàn 175 vào ngày 10 tháng 10 năm 1975.[24] Năm 1981, thực hiện chủ trương chấn chỉnh lực lượng, tinh giảm biên chế của Quân ủy Trung ương, Hạm đội 171 rút gọn lại thành một lữ đoàn cơ động của quân chủng mang phiên hiệu Lữ đoàn 171. Như vậy, hiện nay Hải quân nhân dân Việt Nam chỉ tồn tại tổ chức chiến dịch cấp Lữ đoàn là lớn nhất.
TÀU NGẦM KILO 636 CỦA HẢI QUÂN VIỆT NAM
Hải quân nhân dân Việt Nam sở hữu 6 tàu ngầm Kilo 636 (Varshavyanka) hiện đại, được mệnh danh là "hố đen trong lòng đại dương", thuộc biên chế Lữ đoàn 189. Đây là loại tàu diesel-điện chạy êm, trang bị vũ khí mạnh (tên lửa Klub, ngư lôi), chuyên trách tác chiến ngầm, bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Kilo thuộc lớp tàu ngầm tấn công chạy bằng động cơ diesel – điện, có nhiệm vụ tác chiến chống hạm và chống ngầm. Đây là tàu ngầm thuộc hế hệ thứ ba (loại tiên tiến nhất thế giới), dài gần 74 m, rộng 10 m, lượng giãn nước 3.100 tấn, tốc độ 20 hải lý/giờ (37 km/h), lặn sâu tối đa 300 m, hoạt động độc lập 45 ngày đêm, thủy thủ đoàn 52 người.
Tàu được trang bị 6 ống phóng ngư lôi đường kính 533 mm. Song vũ khí uy lực nhất là tổ hợp tên lửa hành trình đa năng Klub-S. Tổ hợp này gồm ít nhất 5 mẫu tên lửa khác nhau, giúp chỉ huy tàu ngầm lựa chọn linh hoạt vũ khí trong tác chiến.
Kilo 636 vận hành tốt trong vùng biển nông, có khả năng di chuyển ở gần khu vực đáy biển hơn các loại tàu ngầm tấn công khác. Nhờ công nghệ hiện đại làm giảm đáng kể độ ồn cho lớp Kilo, tàu ngầm có khả năng “tàng hình” trước các thiết bị định vị thủy âm (sonar) hiện đại, ẩn mình tốt hơn trong lòng biển để tiếp cận đội tàu nổi của địch và tấn công trước khi bị phát hiện.
Nhờ vũ khí hiện đại và khả năng ẩn mình gần như hoàn hảo, Kilo 636 được hải quân Mỹ mệnh danh là “hố đen trong lòng đại dương”.
Tàu ngầm lớp Kilo nằm trong danh sách tàu ngầm được xuất khẩu nhiều nhất thế giới. Các quốc gia đang vận hành hoặc đặt hàng gồm Nga, Algeria, Trung Quốc, Ấn Độ, Iran, Ba Lan, Romania và Việt Nam. Đây là một trong những hợp đồng lớn nhất lịch sử xuất khẩu khí tài hải quân của Nga. Việc mua tàu Kilo và lữ đoàn tàu ngầm hiện đại đầu tiên ra đời năm 2013 được đánh giá là mở ra trang sử mới trong lịch sử phát triển của Hải quân Việt Nam.
Đội hình tàu ngầm Kilo đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình hiện đại hoá vũ khí, khí tài quân sự, nâng cao sức chiến đấu của Hải quân nhân dân Việt Nam. Tàu ngầm Kilo cùng các tàu mặt nước, tàu hộ vệ là phương tiện hiện đại làm nhiệm vụ tuần tra, trinh sát, bảo vệ các căn cứ hải quân, khu vực bờ biển, vùng biển của Việt Nam.
4: BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG VIỆT NAM
Bộ đội Biên phòng Việt Nam, hay Biên phòng Việt Nam, là một lực lượng vũ trang nhân dân và là một quân chủng cấu thành nên Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là lực lượng có vai trò là lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới, cửa khẩu của Việt Nam.
Bộ đội Biên phòng có chức năng tham mưu cho Bộ Quốc phòng ban hành theo thẩm quyền hoặc đề xuất với Đảng, Nhà nước chính sách, pháp luật về biên phòng; thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu theo quy định của pháp luật.
Bộ đội Biên phòng hoạt động trong khu vực biên giới, cửa khẩu do Bộ Quốc phòng quản lý, địa bàn nội địa để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Hoặc hoạt động ngoài biên giới theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và quy định của pháp luật Việt Nam trong trường hợp vì mục đích nhân đạo, hòa bình, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, kiểm soát xuất nhập cảnh, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật.
5: CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng tuần duyên của Việt Nam, có vị trí và vai trò là lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng chuyên trách của Nhà nước, làm nòng cốt thực thi pháp luật và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển.
Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ và sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Cảnh sát biển Việt Nam tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Cảnh sát biển Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Cảnh sát biển Việt Nam số 33/2018/QH14 ngày 19/11/2018.
6: BỘ TƯ LỆNH TÁC CHIẾN KHÔNG GIAN MẠNG
Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng (viết tắt: Bộ Tư lệnh 86) là đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, giúp Bộ Quốc phòng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và công nghệ thông tin.
Trong chiến tranh hiện đại, không gian mạng được coi là môi trường tác chiến thứ năm gắn kết chặt chẽ với tác chiến trên không, trên bộ, trên biển và trong không gian vũ trụ. Trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đề cao trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, nhận định nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin ngày càng tăng và đặt ra mục tiêu phải chủ động phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả chiến tranh mạng.
Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng đóng vai trò nòng cốt trong việc bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; là lực lượng quan trọng tham gia bảo đảm an ninh, an toàn không gian mạng quốc gia, đấu tranh phòng chống tội phạm công nghệ cao và "diễn biến hòa bình" trên không gian mạng, chuẩn bị sẵn sàng nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ tác chiến trên không gian mạng, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Nhận xét
Đăng nhận xét